Chuyện Tình Dưới Nhành Cây Tầm Gửi

Chương 10: Chương 10




Tháng mười hai...

“Đẹp đấy chứ, phải không em?”.

“Ôi trời ôi! Em đang bị vẹo cái cổ đây”. Bridget đã phải ngả đầu ra sau hết mức mới nhìn thấy được tòa nhà cao nhất của Trung tâm Rockfeller cùng cây Giáng sinh lấp lánh đằng trước tòa nhà.

“Em có vẻ như là một du khách hiếu kỳ đó cưng”.

“Sao cũng được”, nàng cười. “Em là du khách mà. New York vào thời điểm Giáng sinh thật vui mắt”. Quảng trường đầy nghẹt những con người có cùng sở thích như nhau, họ vui vẻ chụp hình trước cây thông nổi tiếng thế giới, mặt tiền Đài Phát thanh Quốc gia, những chiếc xe cảnh sát New York - nói tóm lại, tất cả mọi thứ.

“Muốn trượt pa-tanh không?”. Chàng hỏi và nhìn về sân băng bên dưới cây thông, đầy ắp những người trượt pa-tanh thuộc mọi lứa tuổi đang đi tới đi lui với những bước chân trịnh trọng.

“À, được. Nhưng một lát thôi nghe”. Nàng nhớ lại hồ nước tinh khôi ngày xưa cách đây mấy năm, khi nàng và Jonas đã có lần trượt pa-tanh ở đó. Trên lớp băng dày, được quét sạch tuyết có một dấu báo, và họ đã cùng liều lĩnh tay nắm tay đi lên trên đó. Sự vắng lặng của các cánh rừng mùa đông chỉ bị phá vỡ vì tiếng nói của họ từ các ngọn đồi xung quanh vang vọng trở lại.

Một điệu van-xơ từ phía xa cất lên, và những người trượt băng lên đường. Cỗ máy từ trong một góc ầm ầm chạy ra phía trước, cào sạch và làm láng mặt băng. Bridget nhìn theo và nghĩ Molly sẽ rất thích trượt băng ở đây. Sân băng đầy ắp những đứa trẻ cùng tuổi với nó đang xếp hàng đợi đến lượt mình ra trượt pa-tanh.

“Mình cùng trượt nào”. Jonas nắm bàn tay nàng, siết chặt. Nàng có thể cảm thấy hơi ấm qua đôi găng tay của mình và của chàng. Họ đi xuống các bậc thang bên phía Đại lộ Số Năm của quảng trường, dừng lại để chiêm ngưỡng các thiên thần Giáng sinh xếp hàng quay mặt vào nhau, làm bằng dây kẽm màu trắng giống như kẹo bông, với những chiếc kèn cất cao trong nỗi hân hoan không bật thành lời.

Dòng người di chuyển nhanh hơn khi ai nấy đều đã thuê giày pa-tanh để mang, vừa cười nói vừa lướt qua quãng đường ngắn từ quầy thuê giày tới sân băng. Những người mới tập phải bám vào các thanh vịn trên bức tường bọc quanh để đến được đó, rồi mạnh dạn bước ra, đầu gối run rẩy.

Jonas lo việc đi thuê giày pa-tanh trong khi Bridget chỉ thích thú nhìn mọi người. Những đứa trẻ gò má đỏ hồng, mặc đồ ấm áp, đi ngang qua đó, bám chặt vào tay người lớn, nàng kinh ngạc thấy một số đứa trẻ trượt rất giỏi. Giống như mọi nơi khác ở New York, sân băng rất đông người, nhưng mọi người ở đây nhường nhịn lẫn nhau một cách rất lịch sự, điều vốn chỉ thấy ở những thành phố lớn.

Trên các cây trụ đèn bóng loáng, những lá cờ phất phới bay phía trên trung tâm Rockefeller, màu sắc rực rỡ của chúng càng nổi bật thêm nhờ những chiếc khăn quàng và áo ấm của du khách. Nàng để ý thấy những người dân New York mặc đồ đen cũng tô điểm cho mình một chút màu sắc trên cổ - thứ khăn quàng này được bán dạo rất nhiều ở đây với giá rẻ cho nên ai cũng muốn mua.

Nàng thấy bàn tay Jonas vỗ vào lưng mình và họ ngồi xuống một chiếc ghế dài lạnh cóng để xỏ giày pa-tanh.

Chỉ vài phút sau họ đã trượt đi theo một vòng tròn rộng của riêng mình, trên mặt họ nụ cười nở lớn.

“Em thấy như mình ở trong một tấm thiệp Giáng sinh”. Bridget nói.

“Em đúng là thế”, Jonas khẳng định.

Nàng rời khỏi Jonas và vượt lên phía một tí, rồi quay mặt lại để nhìn chàng, chân bước thụt lùi. “Em vẫn còn làm như thế được!”, nàng reo lên hớn hở. Chỉ vài giây sau, nàng trở lại đi bên cạnh chàng mà không muốn để cho người quản lí sân băng quở trách, may mắn thay, lúc này ông ta đang nhìn đi nơi khác.

“May cho em đấy”, Jonas cười khúc khích. Chàng gật đầu với một chàng trai ngưỡng mộ nhìn Bridget.

Một lời nhắn nhủ ngầm. Hãy quên đi, ông bạn. Nàng đang đi với tôi.

Phải, em đi với anh, Bridget nghĩ. Và em sẽ mãi mãi như thế.

Sau cùng, chán đi vòng vòng, họ trả lại giày pa-tanh, trước sự trông đợi của một luồng người dài mỗi lúc một nhiều thêm lên trong thời gian họ ở trên sân băng.

“Được, thôi thế là xong mục này”, Bridget nói. “Bây giờ em muốn đi xem các quầy hàng ở đại lộ Saks”.

“Như vậy có nghĩa là phải xếp một hàng khác”, Jonas cười cảnh báo.

“Nào, uống một ly cacao rồi hãy đi. Ít ra chúng ta cũng thấy ấm người trong khi chờ đợi”.

Cách này khá hiệu quả, dù Brtidget thấy ở New York không có nơi nào lạnh cho bằng Vermont. Những đám người chen chúc, dòng xe cộ không ngừng đông nghẹt, và những tòa nhà cao, tất cả dường như đều tạo nên một sức nóng riêng - một thứ kích thích hay lây lan.

Uống hết mấy ly cacao, họ đi tới khúc quanh của sợi dây giăng phía trước các quầy hàng bán đồ ngày lễ. Jonas lấy cái ly của nàng lồng vào trong ly của mình rồi nhét vào trong túi áo.

“Cám ơn”, nàng nói rồi nhìn vào các ô kính, khá gần để nhìn thấy được các chi tiết. Những nhân vật mùa đông gây nên một sự bối rối thích thú, mỗi gian hàng kế cận nhau đều có một câu chuyện riêng để kể lại, họ sử dụng những nhân vật cử động và một kiểu thiết kế ma thuật mà Bridget không thể nào thực hiện nổi ở Randolph. Nhưng những gì nàng thấy thật hấp dẫn, khiến Bridget quyết định áp dụng ít ra một phần của nó vào việc trang trí ngày lễ của mình, ở nhà cũng như ở cửa hàng.

Qua mỗi quầy hàng nàng đều thở dài ngưỡng mộ, không muốn rời đi. Nhưng vì có nhiều người khác đang nôn nóng xếp hàng nên họ không thể lần lữa. Nàng để cho Jonas nắm cánh tay mình đi băng qua đường, hướng về phía Đại lộ số Năm. “Mình đi đâu đây?”, nàng hỏi.

“Đi gặp một vài người bạn của anh”.

Nàng nhìn vào chàng, đôi chút lo âu. “Kìa, ai thế?”.

“Rồi em sẽ thấy”.

Họ tiếp tục đi, ngang qua vài đám người khác, cho đến khi đi được gần một chục dãy nhà. Bridget nhìn lên bảng báo hiệu đường màu xanh chữ trắng. Họ đang ở đường số 42.

Để mặc Jonas, nàng bước xuống khỏi lề đường. Một chiếc tắc xi trờ tới, ngoặt vào lằn xe bên cạnh, bóp còi inh ỏi.

Chàng chộp lấy nàng, đẩy sau lưng. “Cẩn thận chứ. Mấy thằng này lái xe như điên vậy”.

“Thảo nào”, nàng nói nhăn nhó. “Vậy mấy người bạn anh đâu? Khu này đâu giống khu dân cư”.

Với một tòa nhà chọc trời mới xây ở một góc phố, một ngôi nhà cũ khuất trong dàn giáo ở xéo phía bên kia, một tòa công sở nguy nga với một khuôn viên lớn trải ngang khu phố, và một cửa hàng bán lẻ phía sau mình, Bridget chẳng thấy gì có vẻ là khu có nhiều nhà ở.

“Họ đã ở đây nhiều năm rồi”. Jonas trấn an nàng. “Kìa, có đèn sáng. Chúng ta vào đi”.

Nàng băng qua ngã tư lớn với sự thận trọng hơn và nhận thấy là Jonas, cao hơn nàng một cái đầu, lần này đang cảnh giác trông chừng mấy chiếc tắc xi. Nàng để chàng dẫn đi, và nhìn mặt những con người chẳng mấy khi nhìn trở lại. Khi đi được nửa chừng dãy nhà kế tiếp, chàng dừng lại. “Nhìn kia. Mấy người bạn của anh đây”.

Bridget phá lên cười. Hai con sư tử đá hùng vĩ đang giương mắt nhìn xuống dòng người đi mua sắm, uy nghi nằm trên những cái bệ ở hai bên các bậc cấp lớn.

“Đây. Những con sư tử của thư viện New York”, chàng nói. “Chúng được trang hoàng để phục vụ cho ngày lễ”.

Mỗi con sư tử đeo trên cổ một vòng tròn lớn bằng kim loại, trang trí thêm một chiếc nơ kim loại màu đỏ.

“Ô. Trông đẹp thật”. Nàng nói, “Anh giới thiệu đi”.

“Sao hả?”

“Chúng có tên không?”, nàng ôn tồn hỏi.

“Hừm”. Jonas đưa bàn tay đeo găng lên xoa xoa cằm mình. “Anh nghĩ là chúng có tên. À, anh nhớ ra rồi. Một con tên Nhẫn, một con tên Dũng. Nhưng anh không biết con nào tên nào”.

Bridget nắm lấy cánh tay Jonas và tựa người vào chàng để nhìn mấy con sư tử. Một vài bông tuyết trắng rơi xuống trong khi nàng đứng nhìn, nàng bắt lấy một bông trong lòng bàn tay. “Đã có tuyết rơi”.

Jonas đưa bàn tay ra và bắt thêm vài bông nữa. “Đón xe buýt đi xuống phố nhé?”.

“Kìa, chúng ta đâu phải đang ở trong trận bão tuyết”, nàng cười. “Nhưng cũng được”.

Họ xuống phố ở cuối đại lộ Số Năm, đi bộ qua quảng trường Washington, phía dưới Khải hoàn môn nghệ thuật cổ kính và những tàng cây lâu năm, đồ sộ đến phải kinh ngạc. Tuyết rơi nhè nhẹ in hình lên những đường cong của các cành cây lớn trên đầu họ.

“Em không biết là ở New York có những cây to như thế này”, nàng nói khe khẽ.

“Phải, anh cũng thấy ngạc nhiên khi đến đây lần đầu. Tất nhiên, đây là một trong những khu vực lâu đời nhất của Manhattan. Các đường phố ở đây đều mang tên chứ không mang số”.

“Hừm”. Ý nghĩ chàng đã từng có lần bỡ ngỡ ở khu phố này giống mình khiến cho Bridget thấy phần nào dễ chịu. “Này, em đói bụng rồi”.

“Anh cũng vậy. Em thích ăn gì? Chọn đi”.

Họ đã ra khỏi khu công viên và đi vào một đường phố hẹp chạy qua các ngôi nhà nhỏ, cũ kỹ với những gian hàng kỳ dị ở tầng trệt và một sự đa dạng đến kinh ngạc của những quán ăn.

Bridget vốn chẳng thích các món ăn Thái, Nga hoặc Senegal. “Em có thể làm người quê mùa một chút và chỉ ăn một món thịt băm được không?”.

“Được chứ. Và nếu em không ngại lội bộ thêm nữa, chúng ta có thể đi tới một trong những quán quen của anh để ăn món đó”.

“Được. Em chưa mệt”.

Vì tuyết vẫn tiếp tục rơi nhè nhẹ nhưng không ngớt nên họ băng ngang Greenwich Village và Little Italy để chui vào một khu lân cận gồm những tầng lửng kềnh càng khiến cho con đường trở nên nhỏ hẹp.

“Đã đến nơi chưa?”, Bridget hỏi. “Chao ôi, em thật giống như con nít”.

“Gần đến rồi. Đi qua hai dãy nữa, bên phải”.

Nàng hít một hơi dài rồi đi tiếp.

“Kia rồi. Quán Moondance”.

“Ôi, trời”. Có một vẻ gì huyễn ảo ở nơi này: một cái quán nhỏ xíu, theo kiểu toa ăn xe lửa trôi giạt đến góc này mấy chục năm trước và được gắn trên cao một bảng hiệu ngộ nghĩnh to hơn cái quán.

Một vành trăng lưỡi liềm lớn, màu phô mai vàng, bọc quanh dưới đáy của tấm bảng. Mấy chữ cái màu xanh của cái tên Moondance nổi bật lên với những đồng tiền sáng lấp lánh trong ánh đèn đường phố. Kế tiếp bên cạnh là hình một ly cà phê lớn màu xanh với những ngôi sao từ đó mọc lên thay vì làn khói. Họa tiết mặt trăng lưỡi liềm được lặp lại nhiều lần nơi các ô cửa nhỏ, và một màu sáng ấm từ đó tỏa ra. Mặc dù tuyết rơi - và có lẽ vì tuyết rơi - trong quán đang có một vài người khách.

“Molly chắc sẽ thích nơi này lắm”, Bridget nói. “Trông như không phải cảnh thật”.

“Nhưng thật đấy”, Jonas nói. “Chà, anh thấy lạnh cóng rồi. Ta vào trong đi”.

Bridget dừng nơi lề đường, cưỡng lại cái kéo tay của chàng để chiêm ngưỡng thêm vài giây nữa cái quán ăn nhỏ ngồ ngộ này.

“Vào đi”, chàng bảo. “Trước khi họ hạ nó xuống và thay bằng một tháp công quản”.

“Em mong họ đừng làm thế”, nàng nói và cười.

Họ được một tiếp viên kỳ cựu dẫn tới cái bàn, ông ta đưa cho họ một bản thực đơn có phần lem luốc và để mặc cho họ quyết định.

“Không hẳn là thực phẩm năm sao đâu”, chàng thì thầm. “Nhưng em có thể hoàn toàn yên tâm với món thịt băm”.

Nàng gọi món thịt băm, và chàng cũng làm thế, thêm một chai Côca và khoai tây chiên. Khi họ đã ăn xong và Jonas đi ra phía sau bàn để thanh toán hóa đơn, nàng để ý nhìn người khách kỳ cựu đang ngồi ở cái bàn sau bàn của họ. Ông ta mỉm cười với nàng một cách thân thiện, nhẩn nha với ly cà phê và miếng bánh nướng.

Cái quán quá nhỏ nên họ có thể trò chuyện với nhau mà không cần nói lớn. Ông ta có vẻ khá già để làm người khách của quán này từ khi mới lập. Ông ta có thể biết được ít nhiều về cái quán này. Bridget nghĩ mình nên hỏi xem. “Chỗ này mát, ông nhỉ?’.

“Phải”. Ông ta đáp. “Lúc nào cũng mát”.

“Có lẽ ông đã đến đây lâu lắm rồi?”.

Người đàn ông lớn tuổi gật đầu. “Tôi chẳng nhớ từ khi nào nữa”.

“Tôi có thể hỏi ông vài điều được không?”.

“Cô cứ hỏi”.

Jonas đã quay lại và chàng có vẻ thích thú vì sự quan tâm của nàng. Chàng đứng bên cạnh nàng và chờ người kia trả lời.

“Thế ông có biết ai là người làm ra cái bảng hiệu kia không? Một nghệ sĩ ư? Trông thật khác thường”.

“Để tôi nghĩ xem”. Ông ta cắn một miếng bánh, vừa nhai vừa suy nghĩ, như thể phải bồi bổ thêm cho trí nhớ. “Anh ta là một chàng trai trẻ. Có tài thật. Đây là một bảng hiệu phức tạp, nhất là với cái hình mặt trăng. Hình này đã được thấy trong các buổi giới thiệu của điện ảnh và truyền hình”. Ông ta thở dài. “Nhưng anh ta đã làm cái bảng hiệu này hơn hai mươi năm rồi. Tôi không nghĩ anh ta là người ở quanh đây”.

“Thế à”, Bridget sốt sắng nói. “Không biết ông ta ở đâu đến nhỉ?”.

Người đàn ông kia chớp chớp hai mắt. “Cô cần làm một cái bảng hiệu như thế à?”.

“Ồ, không. Nhưng được nói chuyện với ông ta hẳn là vui lắm”.

Jonas lắc đầu và cười.

Người đàn ông lớn tuổi vẫn đang ngẫm nghĩ. “Anh ta có thể ở tận miền bắc của New York. Tôi không biết chắc. Cô và cậu từ đâu tới?”.

“Vermont”.

Ông ta gật đầu. “À, có thể là anh chàng làm bảng hiệu từ đó đến”, ông ta nói với vẻ xã giao.

Jonas cầm chiếc áo lên đưa cho nàng. “Tuyết rơi nhiều hơn đấy. Chúng ta phải đi thôi”.

Nàng đứng dậy, xỏ tay áo vào. “Cám ơn ông nhiều lắm”, nàng nói với người đàn ông lớn tuổi. Theo cái đà nhấm nháp của ông thì phải đến ngày mai mới hết cái bánh nướng này.

“Ước gì tôi biết được nhiều hơn”, ông ta nói. “Hai người đi cẩn thận nhé”.

Họ tạm biệt ông rồi thận trọng bước trên lề đường bây giờ đã trở nên trơn trợt vì tuyết bám. Nàng đứng đợi, kéo cổ áo lên và ước gì mình đội một cái nón trong khi Jonas bước xuống lề đường để đón một chiếc tắc xi.

Một chiếc xe nhanh chóng tấp vào và chàng đẩy nàng lên ghế sau. Chàng dặn dò người tài xế rồi khép tấm màn ngăn giữa phía sau và phía trước chiếc xe. “Anh không thể chờ cho đến khi về khách sạn và đưa em vào giường được”, chàng thì thầm vào tai nàng.

Bridget tựa đầu vào tấm nhựa vinyl ấm áp, để cho chàng hôn vồ vập. Trong lúc ngồi xe về khu dân cư nàng chẳng suy nghĩ gì nhiều mà chỉ nhìn ra ngoài khi họ đi qua Time Square và chú ý đến các bảng hiệu điện tử không lồ, rực sáng chói chang. Rất nhiều tấm bảng như thế cho nên khó nói là có những tòa nhà ở đằng sau chúng. Cảnh tượng đẹp mắt như vậy, nhưng Bridget thấy chán nản. Bridget thích thú với New York và hoạt động tưng bừng của nó, nhưng nàng cảm thấy nhói đau nỗi nhớ thành phố quê hương bé nhỏ của mình.

***

Mùa đông đã ập đến Vermont chỉ trong một tuần sau khi họ trở về nhà. Nhiệt độ tụt hẳn xuống dưới mức đóng băng và cứ giữ nguyên như thế. Tuy vậy, Bridget vẫn bận rộn với đám khách đổ xô đi mua hàng Giáng sinh ở cửa tiệm, và rất may là có bà Dutton phụ giúp. Jonas cũng rất bận rộn nơi bệnh viện của chàng với việc chữa trị một đợt bội thu những vụ bong gân và gãy xương nhẹ do ngã trên tuyết và băng. Chàng phải cố gắng hết mức để chăm sóc cho tất cả các bệnh nhận vào viện. Nếu không nhờ có Schulzy, cô y tá mà chàng thuê phụ giúp, có lẽ chàng đã kiệt lực hoàn toàn.

Một hôm, khi các trường học trong quận đều phải đóng cửa do trận tuyết rơi nặng bất thường đêm hôm trước, Bridget dẫn Molly tới cửa tiệm và cho nó làm bài tập trên máy vi tính. Nàng cũng dành ra mấy phút để tự mình lên mạng, kéo Molly vào lòng để cho nó xem một số cảnh mà họ đã thấy ở New York: sân trượt pa-tanh ở trung tâm Rockfeller, hai con sư tử ở thư viện quốc gia và quán ản Moondance. Đúng như Bridget nghĩ, Molly rất thích cái quán này và xin được đến New York để xem cái quán.

Bridget hôn trên mái tóc mượt mà của con gái mình, nói “Có thể là vào mùa hè”.

“Mẹ và bác Jonas đi chơi vui quá. Mẹ cũng biết là con cần được nghỉ ngơi chứ”.

“Giáng sinh đang đến rồi đó, cưng. Con được nghỉ hai tuần và có thể gặp các bạn bè của con ở Randolph”.

“Con có ý này”, Molly hăm hở nói. “Mẹ dẫn con và Vicki đi New York nhé”.

“Như vậy thì đâu có phải là những ngày nghỉ ngơi của mẹ”, Bridget cười.

“Kìa, mẹ... Chúng con sẽ ngoan mà”.

“Mẹ tin chắc là các con sẽ ngoan. Nhưng làm việc gì cũng phải đúng lúc của nó, còn bây giờ thì...”, nàng ngập ngừng. “Chúng ta sẽ ở lại Vermont để đón Giáng sinh như thường lệ xưa nay”.

“Nhưng mẹ thì đã đi được rồi”.

Bridget nháy mắt với con gái mình. “Vì mẹ là người lớn, và đôi khi người lớn thì được đi trước. Con có biết thế không?”.

“Không”. Molly trề môi dưới ra.

“Thôi đừng giận dỗi nữa. Mẹ không chiều con được đâu”.

Molly liền bỏ cuộc và tìm cách xin một thứ khác mà nó thấy dễ được chấp nhận hơn. “Tối nay con ngủ lại nhà Vicki được không mẹ? Sau khi làm bánh Giáng sinh xong?”.

Bridget suy nghĩ về việc này. Nếu Molly đi rồi thì Jonas có thể đến. Nàng nhớ chàng. Hơn thế nữa, hai người có chuyện cần nói với nhau. Cuộc hỏi và đáp được kết thúc bằng lời giải thích của cha nàng hôm trước chưa phải là đủ. Nàng không thể giữ kín mãi được. Bridget không muốn bắt đầu một năm mới mà rốt cuộc lại không nói thực câu chuyện với Jonas. Có những việc mà chàng chưa biết... và sẽ không có dịp nào thuận tiện hơn để giải thích.

“Mẹ? Mẹ đang nghĩ gì đâu đâu vậy”.

“Hả? Ồ... xin lỗi. Được chứ, con có thể ngủ bên nhà Vicki”.

Molly nhảy ra khỏi lòng mẹ. “Hay quá!”.

“Nếu con làm xong các bài nhà trường”.

“Bánh qui sắp sửa đẹp rồi, mẹ ơi!”, Molly reo lên trong khi cúi xuống quầy bếp để nhìn cho rõ hơn.

“Sẽ không đẹp đâu nếu con không tự mình làm lấy!”, Bridget cảnh cáo nó.

Molly phải miễn cưỡng ngả người ra sau trong khi Bridget bổ sung những chấm tô điểm cuối cùng và dùng kem trắng viền quanh những hình người bằng bánh qui gừng. Chỉ còn một hình người. Bridget ngưng lại để lấy thêm kem trắng vào ống.

“Bây giờ con gắn nút kẹo lên đó được chưa?”, Molly hỏi.

“Chờ mẹ làm xong một lượt đã”, Bridget trả lời và cố giấu nụ cười trước sự nôn nóng của con gái mình. Molly luôn luôn có tật như thế vào dịp Giáng sinh. Bridget đã phải mang tất cả các món quà bọc kín qua nhà cha mẹ nàng, không thì Molly sẽ chọc thủng và mó máy mỗi thứ đến cả nghìn lần - để đoán xem trong đó là gì. Nó chẳng bao giờ có được sự kiên nhẫn.

Bridget vừa bắt đầu bóp cái ống kem thì có một tiếng gõ mạnh ngoài cửa. Tiếng gõ cửa đột ngột khiến nàng bóp mạnh và làm nhòe ra một cục kem trên mặt hình người. Nàng càu nhàu và đi lấy con dao.

“Xem thử ai vậy, Molly”, Bridget ra lệnh rồi bắt đầu sửa chữa chỗ hư trên cái bánh.

“Chắc là Vicki. Nó đến xem lại cho chắc mọi thứ mà chúng con cần cho bữa tiệc”. Molly vừa nói vừa phóng ra ngã cửa sau.

“Tiệc gì thế?”, Bridget cau mày. “Hai đứa định làm cái trò gì đấy?”.

“Chúng con định tổ chức bữa tiệc Những Vị Khách Bí Mật tại nhà của nó. Nó có mời cả Kathy nữa. Con phải mang đồ trang điểm tới. Con lấy trong tủ áo mẹ được không?”.

“Không, con không thể...”.

“Con đã lấy rồi mà”, Molly nói cho mẹ biết trong khi mở cánh cửa sau. “Bác Jonas!”, nó mừng rỡ reo lên.

Bridget quay ngoắt lại khi Jonas bước vào. Trông chàng có vẻ vạm vỡ và đầy nam tính, giống như là rốt cuộc chàng đã ra khỏi phòng khám để đi cấp cứu nhiều giờ ở miền núi xa vậy. Chàng khoác một chiếc áo trùm đầu bằng da lộn màu đen, bên trong lót lông cừu. Bridget chẳng muốn gì hơn là vùi mình vào trong đó và được chàng ôm thật chặt.

Nàng cảm thấy lòng dạ mình cồn cào và hai đầu gối như muốn quị xuống, nhưng nàng nhận thấy Molly đang nhìn mình tò mò. Không nên để cho Molly đoán hiểu về việc Jonas đến đây. Bridget lưỡng lự cắn vào môi dưới.

“Tuyết lại sắp rơi nữa đấy”, Jonas nói lớn rồi đóng cánh cửa lại sau khi vào nhà.

Bridget liếc nhìn bầu trời xám xịt bên ngoài. Nàng cố trả lời một cách điềm tĩnh. “Chúng ta sắp có một mùa Giáng sinh trắng xóa đây. Quả đất có nóng lên hay không thì chả biết”.

“Anh nghĩ là mình sắp bị tuyết ngập đến đầu mất. Con có sao không, Molly?”. Chàng nhìn về phía con bé.

“Con không chờ được! Con nên đi thì hơn! Mẹ ơi, con đi xếp túi nghe, mẹ?”.

“Được. Mẹ sẽ lo mớ bánh qui gừng. Cám ơn con đã giúp mẹ”.

Molly chạy ra khỏi nhà bếp.

“Không ngờ anh đến sớm thế”. Bridget đâm ra lo lắng về bề ngoài của mình.

Nàng đã muốn thay quần áo và trang điểm đôi chút trước khi chàng tới. Nàng đưa lưng bàn tay gạt mớ tóc trước trán mình, nhưng quên mất con dao dính đầy kem trên tay, việc này khiến cho má nàng bị quệt một vệt kem.

“Mẹ có nghĩ là bác Jonas đến không?”, Molly ngạc nhiên hỏi rồi cụng cụng cái đầu vào ô cửa nhà bếp.

“Ồ, mẹ tưởng con lên lầu rồi chứ”.

“Con mới trở xuống”, Molly nói hồn nhiên.

“À, mẹ hiểu. Mẹ có nói với con là bác Jonas sẽ đến mà”. Bridget đặt con dao xuống, nàng biết rất rõ lẽ ra nàng không nên nói gì với Molly hết, vì chưa muốn giải thích quá nhiều về chuyện này. Nàng lấy cái khăn ướt, lau vết kem trên má mình, cái gò má ửng đỏ phần nào vì sự bối rối. “Mặc dù mẹ nghĩ là bác sẽ đến muộn hơn kia”, ôi chao, Molly và Vicki sẽ có được một cơ hội lớn để bàn tán về tin này. “Xin lỗi, anh Jonas. Em chưa kịp sửa soạn gì cả”.

“Em trông đẹp lắm mà”.

“Mẹ lúc nào trông cũng đẹp cả, mẹ ơi”, Molly ủng hộ thêm, nhưng lời nói của nó mang một ý nghĩa khác với của chàng.

“Anh thấy anh phải xin lỗi về việc đến sớm, nhưng với trời tuyết như thế, anh muốn chắc chắn rằng Molly sẽ có được món quà Giáng sinh đặc biệt này. Em có phiền không nếu nó mở trước gói quà này?”.

“Không sao đâu. Như vậy may ra nó không làm cho em phát điên lên đây”, Bridget nhăn nhó nói.

Chàng đưa tới trước cái hộp lớn buộc ruy băng mà chàng vẫn thủ ở sau lưng.

“Của con!”, Molly reo lên.

“Con biết còn có ai khác trong nhà này tên là Molly không nhỉ?”, Jonas nói đùa và đưa gói quà cho nó.

“Con mở ra bây giờ được không mẹ?”, Molly vừa hỏi mẹ vừa mừng rỡ vồ lấy cái hộp.

“Con mở đi”, Jonas nói, và Bridget gật đầu đồng ý với câu trả lời của chàng.

Hết sức cẩn thận, Molly kéo tuột sợi dây ruy băng sáng bóng buộc quanh cái hộp đựng quà, hai mắt hạt dẻ của nó sáng lên long lanh. Tờ giấy cũng được gỡ ra cẩn thận như thế, rồi Molly mở cái nắp hộp lên để xem thứ gì bên trong.

“Một tấm vải lót yên!”.

“Cẩn thận nhé”, Jonas lưu ý khi nó bắt đầu lôi tấm vải ra. “Có thể có một cái gì gói bên trong đấy”.

Molly mở to đôi mắt trước khi bắt đầu mở tấm vải màu xanh nhạt ra. Tấm vải dày che không để Bridget nhìn được gì bên trong, nhưng nàng thấy một thoáng nghiêm nghị đột ngột hiện ra trên gương mặt của con gái mình. Molly bỗng cười to lên.

“Cái gì vậy?”, Bridget hỏi, không ngăn được sự tò mò.

“Một con búp bê!”, Molly nói lớn, đồng thời nhấc một con búp bê sành từ trong tấm vải ra.

“Bác nghĩ đứa con gái nào cũng nên có một con búp bê, cho dù có còn ở tuổi chơi búp bê hay không”, Jonas vừa nói vừa nhoẻn miệng cười.

“Tuyệt lắm!”, Molly vui vẻ. “Cả hai món quà đều tuyệt cả! Cám ơn bác Jonas”.

“Không có gì”. Chàng gật đầu nhẹ, mỉm cười, đuôi mắt nheo lại.

Tiếng điện thoại reo vang. “Con đi nghe đây!”, Molly nói.

“Ra ngoài phòng khách mà trả lời nhé”, Bridget bảo và Molly chạy qua phòng khác.

Một giây sau tiếng chuông hết reo và Molly báo lại, “Điện thoại của con!”.

Jonas từ từ đi qua căn phòng, đến nơi Bridget đang đứng. Chàng liếc nhìn nhanh vào những hình người bằng bánh qui gừng có bôi kem. “Đẹp quá”, chàng nói.

“Và ăn cũng rất ngon nữa. Này”, nàng vừa nói vừa đưa cho chàng một hình người có bộ mặt bằng kẹo dẻo.

“Em đùa đấy à?”. Đôi mắt chàng lộ vẻ diễu cợt. “Em làm công phu như thế mà bảo anh cắn mất một miếng của anh chàng này?”.

“Không, em không đùa đâu”. Bridget mỉm cười nhè nhẹ. “Em đã làm hỏng cái này rồi”.

Chàng đang đứng sát bên cạnh nàng, chỉ cần nhích người một tí là nàng có thể chạm vào chàng, nhưng nàng thấy gần như việc ấy là không cần thiết. Bridget có cái cảm giác đầm ấm mơ hồ rằng chàng đã ôm nàng trong vòng tay.

“Có phải là em đã thay đổi ý định?” Chàng nói khe khẽ, đôi mắt xanh đục nhìn vào mắt nàng.

“Về chuyện gì?”. Nàng hỏi, và nhận thấy một sự thu hút có tính nhục cảm nơi chàng.

“Về tối hôm nay”, chàng đáp. “Em dường như có vẻ... Ồ, anh không biết. Đuối sức phải không? Nói thế có đúng không nhỉ?”.

Jonas đưa ra một lời thăm dò ranh mãnh như thường lệ. Giữa các công việc như lo cho gian hàng trong mùa mua sắm Giáng sinh, tạo sự vui vẻ cho con gái mình, và vẽ mặt cho các nhân vật bánh qui gừng bằng một ống kem, Bridget đã thấy ngán ngẩm. Và tất cả những chuyện gây căng thẳng này, vốn chỉ là lặt vặt, chẳng có chuyện nào sánh nổi với một chuyện lớn mà nàng toan tính trong đầu đã nhiều tháng nay.

“Ồ, thì anh biết đấy... Giáng sinh ảnh hưởng tới tất cả mọi người. Những ngày lễ là những ngày căng thẳng”.

Jonas nhìn nàng trầm ngâm. “Có thật thế không? Anh chưa nói điều gì cả, nhưng em đã có một khoảng thời gian để suy nghĩ xem có muốn kết hôn với anh hay không. Em có yêu anh thực hay không”.

Bridget cảm thấy hụt hẫng và hi vọng sự buồn nản của mình không bộc lộ ra trên nét mặt. “Em vẫn yêu anh trong suốt mười năm, Jonas”. Bridget trả lời với sự bình thản lạ lùng. “Chẳng có gì làm thay đổi điều đó hết”.

Hai bàn tay chàng xòe rộng ra hai bên hông nàng và kéo nàng vào với mình. Nàng mềm mại ngả người vào trong vòng tay của chàng và ngửa mặt lên để đón nụ hôn của chàng. Đây là một sự hứa hẹn ngọt ngào, kết buộc bằng sự đam mê, và mang một dấu ấn chiếm hữu.

Thật vui khi nàng nghe Molly gác máy điện thoại và reo lên, “Mẹ của Vicki đang đến đón con!” và lần này thì nó thình thịch leo lên cầu thang.

Bridget đã có được những gì nàng muốn: một cơ hội để vùi mình vào trong chiếc áo và hít thở làn hơi ấm áp của chàng. Jonas vuốt nhẹ trên lưng nàng, mơn trớn toàn thân và thủ thỉ những lời yêu đương vô nghĩa vào trong tóc nàng. Nàng không cử động gì cho đến khi Molly ầm ầm chạy xuống và lao ra phía cửa trước. “Mẹ không nghe tiếng mẹ của Vicki bóp còi ngoài kia hay sao?”, nó gọi lớn.

“Không”, Bridget đáp trong lúc tiếng cánh cửa trước đóng sầm lại sau lưng Molly. “Tốt rồi”, nàng nói với Jonas.

Jonas mỉm cười với nàng. “Anh cũng giống y như thế khi bằng tuổi nó. Cứ làm những gì mình muốn, chạy nhanh để không ai chặn mình được, và...”.

Bridget đặt một ngón tay lên miệng chàng. “Anh muốn nói bướng bỉnh chứ gì. Phải rồi, anh và nó giống nhau cái tính ấy thật”.

Chàng gật đầu. “Em biết không, nói ra thì nghe buồn cười, nhưng nhiều lúc anh nghĩ nó có thể là con của anh”.

Câu nói tình cờ này khiến tim Bridget nhảy thót một nhịp. Lúc này đây nàng cảm thấy hết sức gần gũi với chàng, đón nhận sự âu yếm bản năng mà chàng đang dành cho nàng. Hơn bất cứ lần nào được Jonas ôm trong vòng tay, Bridget cảm thấy thật yên bình và an toàn. Chàng đã về nhà. Chàng đã yêu nàng và cần có nàng như là nàng đã yêu và cần có chàng vậy.

“Hôm nay anh đã nói là anh yêu em chưa, Bridget?”. Jonas nói với một giọng khàn khàn say đắm, cúi đầu xuống sát đầu nàng.

“Không, em không nghĩ thế. Anh có biết rằng em yêu anh không?”. Hai bàn tay nàng đặt trên vai chàng. Nàng đang định lùa hai bàn tay xung quanh cổ chàng thì chợt nhận ra cái ống kem vẽ hình vẫn còn giữ trên tay mình và một vệt kem trắng đính trên chiếc áo da màu đen của chàng. “Kìa, em đang làm gì trên chiếc áo anh thế này!”, nàng kêu lên và cười xin lỗi. “Để em lau cho sạch”.

Xoay người ra khỏi vòng tay của chàng, nàng đặt ống kem lên quầy bếp để nó không còn gây rắc rối nữa, rồi với lấy cái khăn ướt. Jonas nở nụ cười uể oải nhìn nàng hăm hở chùi mạnh vệt kem.

“Thôi được rồi”, chàng nói sau vài giây và cởi chiếc áo để lên chiếc ghế dựa gần nhất trong bếp.

“Em chùi chưa hết mà”, Bridget phản đối.

“Anh không quan tâm”, Jonas lắc đầu nhanh và đưa hai cánh tay vòng quanh người Bridget rồi siết vào nơi eo của nàng.

Hành động tiếp theo đã được bộc lộ trong ánh mắt của chàng. Chàng cúi người xuống, lướt đôi môi mình trên má và trên thái dương của nàng. Mùi xạ hương của dầu cạo râu kết hợp với hương vị đàn ông của chàng khiến cho nàng thấy ngây ngất. Hơi nóng cơ thể của chàng khiến nàng có cảm giác đang đứng trước một ngọn lửa phừng phực.

“Tuần sau chúng ta làm đám cưới, em nhé?”, chàng hỏi trong khi đôi môi áp lên làn da mịn màng của nàng. “Trước lễ Giáng sinh. Ngay sau khi định ngày được với mục sư. Có được không em?”.

“Vâng”, nàng nói thì thào.

“Em có đủ thời gian để làm mọi thứ không? Chúng ta có thể tổ chức một hôn lễ thực sự, Bridget, khác thường, theo như em muốn. Đó sẽ không phải là một đám cưới vội vàng, qua loa. Anh yêu anh và muốn cho mọi người biết điều đó”.

“Để em thu xếp thời gian. Em sẽ mời tất cả bạn bè của em ở Randolph”. Từ lúc này cho đến ngày đám cưới, từng giây từng phút đều rất tất bật, nhưng Bridget thấy là mình không hề muốn thay đổi. Nụ cười biến khỏi đôi môi của nàng khi những ý nghĩ khác, nghiêm trọng hơn, bỗng nhiên xuất hiện. “Jonas, em muốn nói với anh về chuyện Brian và cuộc hôn...”

“Đừng”. Bàn tay chàng đè lên miệng nàng không cho nói nữa. “Trong tuần qua, anh đã ít nhiều tự vấn lương tâm. Trong thời gian mười năm, gần mười một năm, xa cách thì nhiều chuyện đã xảy ra cho mỗi người chúng ta. Anh không muốn em giải thích với anh một điều gì về người chồng quá cố và cuộc hôn nhân đã qua của em. Đó không hề là chuyện của anh. Cuộc sống của chúng ta bắt đầu từ giờ phút này, và đó mới là điều đáng nói”.

“Nhưng Jonas này, còn có...”.

“Anh biết”, chàng cắt ngang. “Còn phải nghĩ tới Molly nữa. Anh thích nó, Bridget. Nó là một đứa bé khác thường”. Bridget để ý thấy là chàng đã không đưa ra một sự so sánh nào, hoặc tìm cách xem Molly giống mẹ hay giống cha nó. “Sau khi kết hôn, anh muốn làm thủ tục nhận nó làm con, nếu em và Molly đồng ý”.

“Em nghĩ là cả em và Molly đều rất muốn”, Bridget gật đầu. “Dầu sao, Jonas, tất cả những gì em muốn nói...”.

“Chúng ta sẽ không nói về quá khứ nữa, mà chỉ nói đến tương lai thôi”, chàng khẳng định mạnh mẽ.

Nàng thở dài. Nếu muốn có một tương lai với nhau, nàng cần phải nói với chàng toàn bộ sự thật. Vào lúc này.

“Jonas”, nàng nói, “anh phải nghe em trước đã”.

Chàng nheo mắt nhìn lên gương mặt vẻ nghiêm túc của nàng. “Được. Anh nghe đây”.

Tiếng nói của nàng không còn là tiếng thì thầm nữa khi rốt cuộc nàng đã tìm thấy can đảm để nói. “Molly là con của anh, Jonas”.

“Sao hả?”, chàng trân trân nhìn nàng.

“Anh còn nhớ - mấy ngón tay nàng run run vuốt trên cổ áo của chàng, một cử chỉ trìu mến quen thuộc của hai người với nhau - ngày thứ bảy hôm ấy chúng ta trượt tuyết ngang qua đồng quê và tình cờ vào trong một trại gỗ không người hay không? Chúng ta cùng vào trong một căn lều để sưởi ấm và...”.

Hai cánh tay chàng siết chặt quanh nàng. “Chẳng lẽ em thực lòng cho rằng anh đã quên đi chuyện yêu nhau lần đầu của chúng ta hay sao?”. Chàng hỏi với giọng khàn khàn. “Chúng ta ở đấy suốt cả một ngày. Đến mặt trời lặn mới về. Chúng ta chỉ về nhà trước khi trời tối”.

“Chưa đầy một tháng sau, anh ra đi. Hai tuần lễ sau đó, em mới biết là mình đã có thai”.

“Sao em không cho anh biết?”, chàng rền rĩ.

“Làm sao được chứ?”. Nàng hỏi lại với sự chua chát. “Anh chẳng bao giờ nói cho em biết là anh đi đâu và em làm sao để liên lạc với anh. Lẽ ra em nên cố tìm, nhưng... em sợ”.

“Lẽ ra em không nên làm thế”, chàng nói dịu dàng.

“Theo như em biết thì anh đã bỏ rơi em. Mẹ em lo hết việc này và bà làm cho em thấy rằng anh không có quyền biết về đứa con của chúng ta”.

Jonas bứt rứt quay đi, xốc một bàn tay vào trong mái tóc. “Lẽ ra anh phải nghĩ đến khả năng này”, chàng rền rĩ tự lên án mình. “Lẽ ra anh phải biết”.

“Không dễ gì đâu, bởi vì em vẫn còn yêu anh”, nàng bình tĩnh nói với chàng. “Mẹ em thu xếp để cho em ở nhà em gái của mẹ ở Pennsylvania”. Bridget giải thích.

Jonas quá bối rối nên không muốn thực sự lắng nghe. “Anh chàng Brian ấy, người chồng đã mất của em, anh còn nhớ em từng nói với anh rằng anh ta rất rộng lượng và thông cảm. Anh ta đã cưới em và làm cha cho đứa con của một người khác. Anh hiểu vì sao em rất quan tâm tới anh ta”, Jonas thở dài buồn bã, bàn tay chàng chà chà sau gáy.

“Brian...”, nàng ngập ngừng. “Brian O’Shea không phải là người có thật”.

“Em nói sao?”, Jonas quay người lại, trố mắt nhìn nàng.

“Anh ta chỉ là một nhân vật hư cấu trong trí tưởng tượng của mẹ em. Mẹ em muốn sau khi sinh xong thì đem đứa bé cho làm con nuôi, nhưng em không thể làm vậy. Thế rồi mẹ em... phải, bà không muốn người ta biết rằng đứa cháu ngoại của bà là một đứa con hoang. Thế nên bà đã bịa ra một câu chuyện dễ nghe và làm cho mọi người tin là thật”.

“À, phải, ai mà cãi nổi với bà Margaret Harrison”, Jonas lẩm bẩm.

“Em phải chấp nhận câu chuyện này bởi vì chính em, em cũng thấy ít nhiều xấu hổ”. Nàng thở một hơi dài, nhìn lên chiếc nhẫn cưới bằng vàng trên ngón tay mình. Đây là biểu tượng của một sự dối trá tự vệ, vốn tồn tại đã lâu. Một sự dối trá mà không ai biết làm sao để mà đừng nói.

“Nếu biết thế... anh đã phải đến đó với em. Anh sẽ bảo với mẹ em làm ơn đừng dính dáng vào chuyện này”.

“Jonas...”, giọng nói Bridget trầm xuống một cách đau khổ. “Em đã không muốn cho anh biết về chuyện Molly. Em muốn là mình có thể nói nó là con của một người khác nếu như anh có trở về. Em sợ anh cảm thấy có trách nhiệm, hoặc anh muốn cưới em là vì nó. Em không muốn anh làm như thế”.

“Bridget”. Chàng ôm lấy nàng, siết chặt hơn nữa và ru nàng nhè nhẹ, như muốn làm cho vơi dịu một cách muộn màng nỗi khổ đau phiền não mà nàng đã chịu đựng một mình. “Anh yêu em. Ít nhất em cũng biết rằng anh muốn cưới em là vì anh yêu em trước khi anh được biết chuyện về Molly. Có thể rằng bây giờ đã biết thì anh càng yêu nhiều hơn nữa”.

“Em rất mừng”. Mấy tiếng này hãy còn quá ít để nói lên niềm phấn chấn sục sôi trong nàng khi nàng nép người vào chàng.

“Bây giờ anh vẫn chưa tin được điều đó”, Jonas nói khẽ vào mái tóc nàng. “Em biết đấy, kể từ mùa hè vừa qua, khi đôi vợ chồng trẻ ấy...”. Chàng bỗng trở nên bối rối, không muốn nói thêm nhưng Bridget còn nhớ lại sự xúc động sâu xa của chàng do cái chết sớm của đứa con cặp vợ chồng kia. Chàng đã không còn có thể giữ được cái tác phong chuyên nghiệp, bình thản mà các bác sĩ cần và được rèn luyện để có. Nàng đã một thoáng nhìn sâu vào tâm hồn chàng ngày hôm ấy.

“Bridget, việc đó khiến anh nhận thức ra rằng gia đình là một cái gì rất quí giá. Và điều đó đang bắt đầu đến với em, với anh và với Molly theo cách riêng của chúng ta. Chúng ta đang trở thành một gia đình”.

“Em biết”, nàng nói và đưa tay lên vuốt má chàng. “Và em ngạc nhiên khi thấy là sự kết nối này rất tự nhiên. Nhìn thấy anh và Molly ở bên nhau, rốt cuộc em đã hiểu rằng không có gì phải e ngại và mình đã chờ đợi quá lâu. Molly cần có anh” - nàng nói nghẹn ngào – “nó cần có người cha thật của nó”.

“Anh đã làm lỡ mất nhiều năm tháng trong thời thơ ấu của nó”, chàng nói đôi mắt rầu rầu.

“Em cũng biết như thế”, nàng đáp. “Và em phải nhận trách nhiệm là đã để xảy ra điều ấy”.

Jonas buông một tiếng thở dài. “Không hẳn là thế. Mẹ của em, khổ thay, anh không biết nên nói thế nào. Em cũng biết anh nghĩ thế nào về bà ấy. Bà ấy là bà ấy. Nhưng mẹ em không thể điều khiển em theo cách bà ấy đã từng làm, Bridget. Mẹ em không thể điều khiển chúng ta được. Anh sẽ không để xảy ra việc đó lần nữa đâu”.

“Việc đó đang thay đổi”, nàng nói với một giọng nhỏ nhẹ. “Dù chậm chạp, nhưng đang thay đổi”.

“Anh không muốn chống lại bà ấy. Nhưng anh không nghĩ là có một lúc nào mình sẽ gọi bà ấy là mẹ. Anh xin lỗi về chuyện này”.

“Anh đừng xin lỗi. Anh có quyền giận mẹ em. Và giận em”.

“Không đâu. Như vậy có ích gì? Không ai viết lại được quá khứ, hoặc làm sống lại quá khứ đâu, Bridget”. Jonas kéo nàng lại gần hơn. “Anh đã làm một người cha như thế đó. Tồi tệ thật. Nhưng anh cũng thấy mừng. Thà muộn còn hơn là không bao giờ, đúng không? Nói ra thì kỳ lạ, nhưng anh không cảm thấy tức giận. Anh thấy tràn đầy hãnh diện. Anh có một đứa con. Chúng ta có một đứa con!”.

Bridget ngẩng đầu lên nhìn chàng. Nàng như nghẹt thở khi nhìn thấy một nụ cười rạng rỡ trên gương mặt của Jonas. “Phải, chúng ta có một đứa con”, tiếng nàng nghẹn đi vì xúc động. “Tất nhiên là Molly không biết, nhưng chúng ta sẽ nói cho nó biết”.

“Chúng ta sẽ cùng nhau nói”, Jonas hứa. Một chút băn khoăn thoáng qua trên gương mặt chàng”. Em nghĩ nó có giận không?”.

“Chúng ta sẽ giải thích hết mọi điều”, Bridget nói. “Nó đã lớn để hiểu được. Nó thích anh đấy, Jonas. Có thể nó phải mất một thời gian để thích ứng, nhưng em biết cuối cùng rồi nó sẽ thương anh và thấy hãnh diện khi được làm con anh”.

“Nó đã đủ lớn chưa?”. Chàng như có vẻ đắn đo về điều này. “Em nói với anh rằng nó đã được tám tuổi và sắp lên chín. Anh tin lời em. Thực ra nó bao nhiêu tuổi?”. “Mười”.

Jonas nhìn kỹ gương mặt nàng một lúc lâu. Bridget muốn nhìn tránh đi nhưng đôi mắt chàng cứ chăm chắm nhìn nàng. “Từ nay trở đi, chúng ta sẽ nói thật với nhau về tất cả mọi điều. Em đồng ý không?”.

“Vâng”, nàng nói khe khẽ, không dám tin rằng chàng muốn cùng mình... muốn kết hôn cùng mình.

Miệng chàng đột ngột áp lên một góc môi nàng. Bridget xoay người đáp lại cái hôn của chàng, cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết trong đời mình.

***

Họ dự thánh lễ trong nhà thờ có ngọn tháp trắng vào đêm trước Giáng sinh, cùng với hầu hết những người dân ở Randolph. Bridget nhìn xuống các hàng ghế dài đầy ắp những người. Nàng nhận ra hai chị em nhà Pomfret bên cạnh bà Dutton, những bố và mẹ của các bạn Molly, cha mẹ của nàng, những người lớn tuổi và nhỏ tuổi, tất cả cùng đến đây trong tình thân thiện của một đêm thật lạnh khiến cho ai ai cũng khoác áo choàng. Chỉ nghe văng vẳng tiếng sôi sùng sục của cái nồi hơi nhà thờ nơi tầng trệt đang ra sức sưởi ấm cho phần bên trong của giáo đường với mái vòm cao vút.

Thế rồi ca đoàn cất tiếng, bắt đầu hát bài “Phố nhỏ Bethlehem”. Bài hát tuyệt vời này luôn nhắc cho Bridget ít nhiều nhớ về cái thành phố nhỏ của mình. Các ô kính của nhà thờ, theo truyền thông New England, đều không gắn kính màu, để nhìn thấy bầu trời phía trên. Sự trong trẻo của một đêm đông khiến cho những ngôi sao lấp lánh hơn với một sức sáng chói chang.

Nàng nhìn Jonas, bên kia cái đầu cúi xuống của Molly, nó đang dò theo một bài hát mừng quen thuộc trong cuốn Thánh ca. Dù nhìn trực diện nhưng chàng như đang tỏa ra một sức mạnh thanh bình khiến cho lòng nàng tràn ngập niềm yêu. Nàng hướng sự chú ý về phía ca đoàn lúc này đang êm ái hát lên “... những ước ao và lo lắng bao năm... đêm nay đều thỏa mãn trong con...” với sự ngân dài của âm thanh cuối.

Bridget thầm khấn nguyện cho ba người họ, cuối cùng đã thành một gia đình, nàng nhìn xuống chiếc nhẫn đính hôn mà Jonas chỉ mới trao cho nàng một tuần trước đó - và chiếc nhẫn trơn bằng vàng mà chàng đã đeo cho nàng trong một nghi thức tại giáo đường ngày hôm qua. Hạt kim cương ngời sáng hơn tất cả ánh lửa của những vì sao ngoài khung cửa, nhưng chiếc nhẫn cưới mới là thứ quan trọng hơn hết đối với nàng.

Nàng thở phào và ngồi thẳng người lên, dang rộng cánh tay trên thành ghế dài, phía sau đầu của Molly. Jonas cũng làm như thế. Chàng đặt bàn tay lên trên tay nàng, siết lại nhè nhẹ và nhìn nàng với tất cả tình yêu mà nàng vẫn luôn mong đợi.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.