Mặt Nạ Hoàn Hảo

Chương 11: Chương 11




Trong ánh sáng xám xịt của buổi sáng, cô trằn trọc ngủ - và trần truồng, tấm chăn quấn quanh cô như con rắn của Eve. Anh chạm vào cô, má cô, tai cô và tóc cô. Anh không nên chạm vào cô nữa. Nhưng nhận thức đó chỉ khiến cảm giác cấm đoán và ngăn cách về cô khơi dậy hoàn toàn và sắc nhọn hơn.

Cô chuyển mình, để lộ một vết máu nhỏ trên giường, một hình ảnh đập vào anh với lực của một hòn đá đập vào thái dương. Anh nhớ rất rõ chuyện gì đã xảy ra đêm trước, nhưng nhìn chằm chằm vào bằng chứng, biết rằng cô cũng sẽ nhìn thấy nó...

Anh đắp chăn cho cô và bước ra khỏi giường. Xa khỏi cô. Chuyện gì đã xảy ra với anh. Kế hoạch mà anh đã dự tính rất đơn giản: Cuộc hôn nhân này chỉ tồn tại trên danh nghĩa, nó sẽ được hủy bỏ vào thời điểm thích hợp. Anh tin kế hoạch đó sẽ được thực hiện đơn giản như một thực tế rằng: Cô muốn ở gần anh nhiều như một con cá muốn đi bộ.

Nhưng rồi anh đã thất bại.

Anh chỉ định dỗ cô ngủ. Thay vào đó, anh đã cho phép mình bị quyến rũ bởi một trinh nữ xảo quyệt.

Làn da cô như nhung, tóc như lụa, cơ thể cô là những đường cong thú vị của hình học. Và không phải sức quyến rũ xác thịt đã đánh ngã anh. Điều khiến anh ngã gục là niềm vui cô tìm thấy trong sự hiện diện của anh, niềm vui sướng toàn tâm toàn ý, ngây thơ trong lúc say mềm của cô.

Phần nào trong anh đã nhận thức đầy đủ rằng cô đang bối rối, rằng cô không phải là chính mình, và những vì sao trong mắt cô chỉ là sự phản chiếu của rượu Sauternes chảy trong mạch máu. Nhưng cái phần tỉnh táo trong anh đã không lên tiếng đêm qua. Cái phần cô đơn, thiếu thốn, ngu ngốc trong anh đã lên tiếng, cái phần vẫn bị ảnh hưởng bởi những nụ cười của cô, cái phần đã quá hăm hở để một chai whisky tầm thường làm lý do. Khi cô nhìn vào cái phần đó của anh với sự kinh ngạc và đắm đuối, khi cô lẩm bẩm rằng anh làm cô hạnh phúc, khi cô vuốt ve anh như thể anh làm từ chính cơ thể của Chúa, không còn gì quan trọng nữa.

Ảo tưởng, tất cả là ảo tưởng. Anh đã vui mừng ngã gục trước sức quyến rũ của chúng, trước cảm giác thân mật và liên kết giả dối đó. Và nếu không phải tiếng khóc đau đớn làm tan vỡ ảo tưởng của cô...

Anh quay lại nhìn cô. Cô động đậy, rên rỉ khi làm thế.

“Em muốn nhiều hơn”.

“Cái gì nhiều hơn?”

“Anh nhiều hơn”.

Và anh đã tin cô. Lại càng ngốc hơn.

Căn phòng anh vào đêm trước và chọn làm phòng ngủ có cả hành lý của cô. Hầu hết đồ đạc của cô để trong hai cái rương lớn, nhưng giày đi bộ, găng tay, mũ và áo khoác đã nằm rải rác quanh đó.

Chiếc hộp châu báu của cô đặt trên bàn viết, chiều rộng và chiều sâu khoảng ba sáu centinmet và chiều cao khoảng hai tám centinmet, mặt trên nắp hộp cong và mặt dưới nắp bằng phẳng. Vere đã nhìn qua bên trong hộp, ngoại trừ bức tranh của Delacroix, tất cả đều là kỷ vật chỉ có ý nghĩa với cô.

Anh mở chiếc hộp lần nữa và nhìn vào tấm ảnh cưới của cha mẹ cô. Với thân thế của cô, cha anh sẽ chết vì sặc máu. Đấy là không nhắc đến điều tồi tệ nhất mà quý bà Avery nói với anh trước mặt Freddie; xét đến việc ngày chào đời của cô chỉ sau đám cưới của cha mẹ cô sáu tháng, không ai biết chắc chắn rằng cha cô thực sự là Andrew Edgerton, chồng của mẹ cô, hay Algernon Edgerton, chú của Andrew Edgerton và người tình trước đó của Charlotte Edgerton.

Anh lơ đãng lướt ngón cái xuống mặt dưới của nắp hộp. Thứ gì đó đã thu hút được sự chú ý của anh - một cái lỗ nhỏ, và sau đó một cái nữa, và một cái nữa. Anh bật đèn, mở hẳn nắp hộp ra và ngó vào trong.

Chiếc hộp này khảm ngà và xà cừ ở bên ngoài, được bọc nhung xanh ở bên trong. Mặt dưới của nắp hộp cũng bọc nhung xanh, ngoại trừ đường rìa nắp hộp sơn hình xoắn ốc và vỏ sò.

Những đường cắt, gần như vô hình, tỉ mẩn khắc từ mép trái của nắp hộp đến giữa một đường kẻ đen. Chúng mỏng như móng tay và ngắn hơn nửa centinmet. Anh kiểm tra mép phải của nắp hộp. Một hàng đường cắt nhỏ xíu tương tự.

Chúng là cái gì, những đường trang trí?

Một tiếng gõ cửa làm anh giật mình. Anh lưỡng lự rời khỏi chiếc hộp để mở cửa: đó là bữa sáng, cùng với một bức điện từ quý bà Kingsley.

Quý ông và quý bà Vere thân mến,

Tôi cực kỳ nhẹ nhõm thông báo với hai người rằng mọi tàn tích của lũ chuột đã được dọn sạch ở dinh thự Woodley. Và dẫu cho chúng tôi vẫn chưa lần ra thủ phạm của trò chơi khăm này, cảnh sát địa phương đang hăm hở điều tra.

Quý bà Vere hẳn sẽ nhẹ nhõm khi biết rằng những vị khách của tôi đã lần lượt rời khỏi Highgate Court ngày hôm qua, dưới sự giám sát của quý bà Avery. Có lẽ cô ấy cũng thở phào khi biết rằng ông Douglas vẫn chưa trở về khi tôi gửi bức điện này.

Một cậu bé giao hàng tôi gặp trên đường vào làng đảm bảo với tôi rằng cậu ta vừa trở về từ Highgate Court và rằng chủ nhân của dinh thự vẫn vắng mặt.

Tôi gửi kèm rất nhiều lời chúc mừng nhân dịp hôn lễ của hai người.

Eloisa Kingsley

Anh nhét bức điện vào trong túi, trở lại phòng ngủ và xem xét chiếc hộp kỹ lưỡng hơn. Anh dùng lưỡi dao cạo cắt một mảnh từ tấm danh thiếp và gập nó lại thành một cái que mỏng, nhưng vẫn khá cứng. Những cái khe không sâu; hầu hết chúng được cắt vào mép nắp hộp chỉ khoảng gần hai phần năm centinmet. Nhưng có hai khe nằm hai bên mép nắp hộp có thể đút cái que giấy vào sâu khoảng hơn một centinmet.

Anh đột nhiên nhớ ra chiếc chìa khóa bé xíu nằm trong ngăn chứa bí mật của phòng bà Douglas.

Elessande thức giấc với một mớ lộn xộn trong đầu. Hay đúng hơn, một cuộc chiến giữa những vị thần. Không phải thần Zeus đã đánh bại các vị thần khổng lồ rồi hay sao? Đầu cô chắc hẳn cũng đã nứt ra bởi một tia sét. Cô cố mở mí mắt ra, sau đó siết chặt chúng lại ngay lập tức. Căn phòng sáng đến mức không chịu được, như thể có người nhét một cây đuốc vào thẳng hốc mắt cô. Đầu cô vỡ ra thêm nhiều mảnh để phản đối. Bụng cô thì ngược lại, quyết định chết trong một cơn đau quặn thắt và từ từ.

Cô rên rỉ. Âm thanh đó nổ tung trong tai cô, quăng những mảnh vụn của cơn đau cùng cực vào sâu trong não.

Thật hài hước là cô vẫn chưa chết, khi cô đã ở trọn trong vòng tay của địa ngục.

Ai đó kéo chiếc chăn đắp trên người cô ra. Cô rùng mình. Người đó cẩn thận không chạm vào cô trong lúc gỡ những tấm chăn khác đang quấn quanh người cô. Cô rùng mình lần nữa. Cô mang máng nhận thấy rằng cô không mặc nhiều quần áo lắm, không, hình như là không mặc gì cả. Nhưng cô không quan tâm, cô đang bị xiên trên cái xiên của Quỷ vương.

Thứ gì đó mát lạnh và mượt bao quanh cô. Những cánh tay không phản ứng của cô được nâng lên và đút vào ống tay áo. Một cái váy ngủ?

Cô từ từ quay đầu. Cô rên rỉ, chuyển động đó làm tăng thêm những tiếng nện thình thịch trong đầu. Khi cô đang ngẩng mặt lên, đầu cô được nâng lên khiến nó càng đau hơn, cô kêu lên.

“Đây”, một giọng nam nói, cánh tay mạnh mẽ của anh ta quàng quanh người cô. “Thuốc chữa cho cái đầu đau của em. Uống đi”.

Chất lỏng đi vào miệng cô là thứ thuốc khó chịu nhất cô từng nếm, như bùn ở đầm lầy và trứng thối.

Cô phì ra. “Không”.

“Uống đi. Em sẽ cảm thấy khỏe hơn”.

Cô rên rỉ lần nữa. Nhưng giọng nói và cách anh ta ôm cô có uy lực và xoa dịu ngay lập tức. Cô ngoan ngoãn nghe theo.

Cô dừng lại ọe sau mỗi ngụm, nhưng anh ta cứ nghiêng chiếc cốc trên môi cô, cô vừa uống vừa thở hổn hển và rên rỉ.

Sau khi cô uống sạch từng giọt cuối cùng của thứ nước kinh khủng đó, anh ta cho cô uống nước, và cô chưa bao giờ nếm thứ gì ngọt ngào đến thế. Cô uống vội vã, khát, hạnh phúc khi cảm thấy nước tràn xuống cằm. Cuối cùng cô đã thỏa mãn cơn khát, cô rời khỏi chiếc ly và úp mặt vào ngực anh ta.

Chiếc áo gi-lê của anh ta may bằng chất liệu vải rất mịn, chiếc áo sơ mi vải lanh mềm mại và ấm áp. Đầu cô vẫn còn giộng dữ dội, nhưng cô đã... cô đã an toàn. Ít nhất một lần, cô có một người bảo vệ, ai đó ôm ấp và chăm sóc cô và ai đó cũng có mùi thật tuyệt vời.

Lebanon, cô nghĩ một cách vô thức.

Tuy nhiên, trạng thái thoải mái và an toàn này không kéo dài lâu. Người chăm sóc đặt cô xuống giường, đắp chăn cho cô lần nữa, và bỏ đi bất chấp tiếng rên thất vọng và bàn tay nắm chặt lấy áo gi-lê của anh ta.

Khi tiếng bước chân một lần nữa tiến về phía cô, cô mở mắt và ngay lập tức nhắm chúng lại.

Ngài Vere.

Không.

Không phải anh ta.

“Nào, quý bà Vere”, anh ta nói líu lo. “Anh biết sức quyến rũ ở trên giường rất lớn nhưng em phải tỉnh thôi. Nước tắm của em đã sẵn sàng”.

Anh ta đang làm gì trong phòng cô? Cô vẫn đang nằm mơ?

Trí nhớ của tuần qua trở lại dồn dập. Tai nạn chuột của quý bà Kingsley. Một căn nhà đầy những anh chàng độc thân. Ngài Frederick đáng yêu. Cuộc vật lộn trong phòng làm việc của chú cô. Đám cưới.

Cô đã kết hôn. Với ngài Vere.

Cô đã qua đêm với anh ta.

“Vậy anh sẽ hát để đánh thức em nhé?” anh ta nói, với vẻ hăm hở tràn đầy sinh lực. “Anh chỉ biết một bài hát. ‘Daisy, Daisy, hãy cho anh câu trả lời. Anh gần như phát điên với tất cả tình yêu dành cho em’...”

Cô vật lộn ngồi thẳng dậy. “Cám ơn. Nhưng bây giờ em rất tỉnh rồi”.

Khi cô di chuyển trên giường, chiếc chăn trượt ra để lộ một vết máu trên ga trải giường. Bàn tay cô đưa lên cổ họng khi những ký ức khác nữa tràn về đầu cô. Cô nhớ rằng anh ta cọ vào lưỡi cô - một việc kỳ quái, thật kỳ quái. Cô nhớ bị quăng vào giường - lạy Chúa! Và cơn đau - cơn đau xé rách kinh khủng giữa hai chân cô. Cô nhăn mặt trước sự hồi tưởng đó.

Nhưng những ký ức đó đáng tin đến đâu? Cô cũng nhớ nói về Kim cương Hy vọng và chiếc khăn có mùi như Lebanon. Điều gì có thể xui khiến cô trích dẫn Song of Songs?

“Nhưng anh vừa mới bắt đầu”, ngài Vere rền rĩ. “Hãy để anh kết thúc bài hát”.

Cô nuốt nghẹn và cương quyết quăng chân sang một bên giường. Khi cô đứng thẳng lên, cô nhận ra cô mặc rất ít, có mỗi chiếc váy ngủ lụa. Tạ ơn trời là phòng khá tối; chỉ có một vầng sáng yếu ớt rọi trên rèm cửa, cô không hiểu tại sao trước đó cô lại nghĩ căn phòng sáng đến mức không thể chịu đựng được. “Em sẽ rất vui được nghe anh hát lần khác. Nhưng anh phải thứ lỗi cho em lúc này. Em tin rằng nước tắm của em đang đợi”.

Anh chạy đến trước cô và mở cửa phòng tắm. “Một lời khuyên dành cho em, vợ yêu. Tắm nhanh đi nhé, nếu không em sẽ tan chảy”.

Cô chớp mắt. “Anh nói gì cơ?”

“Nước nóng. Đừng ở trong đó lâu hơn mười lăm phút, nếu không em sẽ bắt đầu tan chảy”, anh ta nhắc lại, với tất cả vẻ nghiêm trọng.

Một sự chắc chắn như thế chỉ có thể sánh ngang được với mức độ ngớ ngẩn của nó. “Nhưng không phải nước đã bắt đầu nguội dần sau mười lăm phút ư?”

Cằm anh ta trễ xuống. “Ôi, Chúa tôi, anh chưa bao giờ nghĩ như thế. Đó là lý do chúng ta không nghe thấy chuyện có người tan biến trong bồn tắm nữa”.

Cô đóng cửa lại, thả người vào bồn tắm, và ghim ánh mắt vào đầu gối. Cô sẽ không khóc. Cô từ chối chuyện khóc lóc. Cô hoàn toàn biết rõ là cô đang lao đến đâu khi cô gỡ bỏ quần áo trước mặt ngài Vere.

Đúng mười lăm phút sau cô xuất hiện từ phòng tắm – để đến với chồng cô tại chiếc bàn ở phòng khách. Anh ta đang nhìn chằm chằm vào một cái nĩa với vẻ thích thú không xao nhãng. Nghe thấy tiếng cô đến gần, anh ta nhìn lên, đặt nĩa xuống, và mỉm cười theo đúng kiểu ngớ ngẩn của mình.

“Đầu em như thế nào rồi, vợ yêu? Em uống cả một chai Sauternes”.

Anh ta có thể là người đã mang cho cô thuốc chữa đau đầu trước đó không? Người mà cô đã nằm trong vòng tay một cách mãn nguyện như vậy không?

Tốt nhất không nghĩ đến. Nó sẽ chỉ hủy hoại sự ngọt ngào của ký ức đó.

“Đầu em khá hơn rồi. Cám ơn anh”.

“Và bụng em? Đã ổn hơn chưa?”

“Em tin thế”.

“Vậy đến ăn thứ gì đi. Anh đã gọi trà và một ít bánh mì nướng cho em”.

Trà và bánh mì nướng không có vẻ sẽ làm bụng cô lộn nhào lên lần nữa. Cô từ từ đến bàn và ngồi xuống.

Anh ta rót trà cho cô, đổ tràn ra ngoài đủ để ướt nửa tấm khăn trải bàn. “Nói thật với em, có lẽ anh cũng hơi quá chén, vợ yêu ạ. Nhưng không phải mọi ngày đều là ngày em kết hôn, hả? Anh cho rằng cũng đáng bị đau đầu”.

Cô nhai bánh mì và không nhìn anh ta.

“Nhân tiện, em nghĩ gì về cái ống nói? Anh nghĩ nó thật tuyệt vời. Anh chỉ nói trong phòng này, ngay ở đây và họ nghe thấy được ở tận bếp. Tuy nhiên anh hơi ngạc nhiên khi có một người đến để đưa trà và bánh mì. Anh nghĩ chúng sẽ nổ ra từ ống nói. Anh không dám rời khỏi chỗ đó. Nếu ấm trà đi cả quãng đường lên đến đây và sau đó – vỡ tan – bởi vì anh không có ở đó để bắt nó thì quả thật là dớ dẩn”.

Tiếng đập thình thịch trong đầu cô tệ hơn; nơi giữa hai đùi cô cũng bắt đầu nhức nhối một cách khó chịu.

“Anh đang đọc báo trước khi em đến”, ngài Vere tiếp tục. “Và anh phải nói với em biết anh bị sốc không kém khi đọc những trang báo của tờ Times nói rằng Hoàng đế nước Đức là cháu trai của nữ hoàng kính mến của chúng ta. Làm sao người ta có thể bôi nhọ Lệnh bà như thế, gắn cái thằng cha nước Phổ đó vào gia đình không vết nhơ của bà? Anh đang định viết một lá thư yêu cầu tờ báo rút lại tin tức đó”.

Hoàng đế Đức là cháu nội của nữ hoàng, con của con gái lớn nhất của bà, cựu Công chúa Hoàng gia trước đây. Hoàng gia Hanover đã và luôn là người Đức.

Cô mỉm cười yếu ớt. “Phải, anh nên làm thế”.

Cô đã quyết định trở thành một người vợ tốt của anh: Cô nợ anh mọi thứ. Có lẽ ngày mai, khi đầu cô không đau nữa, khi lắng nghe anh không khiến cô tha thiết nghĩ về dàn hợp xướng của một nghìn con bò, cô sẽ ngồi xuống bên anh cùng với tất cả những tập sách của Bộ sách bách khoa về Anh quốc, và sửa lại vài khái niệm sai lầm của anh.

Nhưng bây giờ, tất cả những gì cô có thể làm là mỉm cười với anh và để anh sai như một cái đồng hồ vỡ.

Elissande làu bàu bực bội. Đầu cô vẫn chưa hết đau để có thể xoay cổ và nhìn vào gương sau lưng. Nhưng không nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình, cô lóng ngóng với chiếc áo coóc-xê buộc dây ở lưng.

Một tiếng gõ nhẹ vang lên từ cửa phòng. “Anh có thể giúp được gì chăng, vợ yêu?”

“Không, cám ơn. Em ổn cả”. Điều cuối cùng cô cần là sự giúp đỡ của anh. Nếu có anh can dự, hai người họ sẽ bị buộc vào ghế bằng những sợi dây của chiếc coóc-xê.

Như thể anh không nghe thấy, anh bước vào, mặc một bộ đồ thường ngày màu xanh lơ. Chú cô luôn luôn mặc áo choàng khi ra ngoài, nhưng những quý ông ở thế hệ cô dường như thích những trang phục ít trang trọng hơn.

“Anh!”

Cô giữ chặt chiếc coóc-xê vào thân trên. Cô chưa mặc quần áo mà mới chỉ mặc đồ lót - và anh không nên ở bất kỳ chỗ nào quanh cô. Sau đó mắt cô rơi xuống giường, nơi chỉ có Chúa mới biết chuyện gì đã xảy ra suốt đêm qua.

Chúa và ngài Vere. Cho dù chuyện gì đã xảy ra trên chiếc giường kia, chắc chắn là nó đã thay đổi ý kiến của anh về cuộc hôn nhân này. Sự im lặng ngột ngạt ngày hôm qua đã biến mất, hôm nay, anh đã trở lại vẻ sốt sắng vụng về thường ngày. Cô nắm chiếc coóc-xê chặt hơn.

“Thật đấy, em không cần giúp đỡ gì đâu”, cô lặp lại.

“Tất nhiên là em cần”, anh nói. “May cho em vì anh là một chuyên gia về đồ mặc trong của phụ nữ”.

Ồ, thật sao?

Nhưng anh đã quay cô lại, và giúp cô buộc chặt những sợi dây áo một cách thành thạo và đẹp mắt.

Cô ngạc nhiên. “Anh học cách buộc coóc-xê ở đâu?”

“Chà, em biết mà. Nếu em giúp các quý cô thoát khỏi coóc-xê, em phải giúp họ chui vào”.

Có những quý cô để anh giúp họ ra khỏi coóc-xê mà không bị buộc vào lời thề hôn nhân sao? Cô không biết mình nên sốc hay sợ hãi.

“Nhưng đó là trước khi anh gặp em. Bây giờ đối với anh chỉ có em thôi, tất nhiên”.

Đó là một suy nghĩ đáng sợ. Nhưng cô không có thời gian để đào sâu khi anh tiếp tục với chiếc áo bao ngoài coóc-xê và váy lót.

“Nhanh lên”, anh nói. “Chúng ta phải mau lên một chút. Đã mười giờ mười lăm rồi”.

“Mười giờ mười lăm? Anh chắc không?”

“Tất nhiên”. Anh rút đồng hồ ra để cho cô xem. “Thấy không, chính xác”.

“Và đồng hồ của anh có chính xác không?” Cô không có chút lòng tin nào với anh.

“Anh đã kiểm tra nó với tiếng chuông Big Ben sáng nay”.

Cô xoa thái dương vẫn còn nhức nhối, cô đang quên cái gì đó. Cô đã quên gì nhỉ?

“Dì của em! Chúa tôi, dì ấy chắc phải chết đói rồi”. Và sợ hãi, một mình trong một nơi lạ lẫm, không thấy bóng dáng Elissande đâu.

“Ổ, không, dì ấy khỏe cả. Em để chìa khóa phòng của dì ấy ở đây, vì thế anh đã đến thăm dì ấy lúc sớm khi em vẫn còn ngủ. Bọn anh thậm chí đã ăn sáng cùng nhau”.

Chắc anh đang đùa. Đây là người đã quên rằng anh phải thay chiếc quần bị bẩn trứng trong khoảng thời gian đi từ phòng ăn sáng lên phòng mình. Làm sao anh có thể nhớ được dì của cô?

“Anh mời dì ấy đi với chúng ta hôm nay, đến thăm chú em. Nhưng dì ấy…”

“Xin thứ lỗi?” Đầu cô quay cuồng. “Em nghĩ... em nghĩ anh nói hôm nay chúng ta sẽ đi thăm chú em”.

“À, ừ, thực ra đó là kế hoạch”.

Cô không thể nói gì. Cô chỉ có thể nhìn chằm chằm vào anh.

Anh vỗ lên cánh tay cô. “Đừng cuống lên, em đang già đi một chút rồi đấy, chú em sẽ mừng lắm khi thấy em đã kết hôn đàng hoàng như thế này, vợ yêu à. Và anh là một hầu tước, em biết mà, một người đàn ông có vị thế và tầm ảnh hưởng quan trọng”.

“Nhưng... dì... dì em...”, Elissande dừng lại. Cô lắp bắp trong lúc hoảng sợ. “Bà Douglas, dì ấy nói gì?”

Anh giục cô mặc áo choàng. “À, anh nói với dì ấy rằng chúng ta sẽ vui mừng nếu dì ấy có thể đi với chúng ta, nhưng anh hiểu là dì ấy vẫn còn yếu do chuyến đi hôm qua. Dì ấy nói hôm nay dì ấy muốn nghỉ ngơi hơn”.

Elissande hầu như không để ý rằng anh đang cài khuy áo cho cô. “Em nghĩ dì ấy muốn thế”, cô nói. “Nhưng anh không hiểu sao, em không thể rời dì ấy. Dì ấy không làm được gì nếu không có em”.

“Vô lý. Anh đã giới thiệu dì ấy với quản gia của anh và họ làm quen với nhau rất nhanh”.

“Quản gia của anh?” Cô cho rằng anh phải có một quản gia, vì không lẽ nào anh lại tự quản lý việc nhà. Trong ba mươi sáu tiếng đồng hồ vội vã vừa qua, cô đã không một lần nghĩ đến chuyện anh sống ở đâu hoặc nhà anh được sắp đặt như thế nào. “Quản gia của anh ở trong thành phố?”.

“Tất nhiên. Anh có một ngôi nhà ở thành phố và có người chăm sóc nó cho đến đầu tháng Chín”.

Anh có một ngôi nhà trong thành phố và họ đang ở một khách sạn?

“Em muốn gặp dì em”, cô nói. Cô khó mà tin được anh có thể thuê được người làm giỏi.

Tuy nhiên, bà Dilwyn, quản gia của anh, hóa ra là một sự ngạc nhiên đáng hài lòng. Bà là một phụ nữ thấp bé gần năm mươi tuổi, nói năng nhẹ nhàng và tính tình tỉ mỉ. Bà đã ghi lại chi tiết những sự kiện đã xảy ra kể từ khi bà đến vào lúc tám giờ sáng trong một cuốn sổ tay: lượng đồ ăn lỏng dì Rachel đã dùng, số lần đi nhà vệ sinh, thậm chí chính xác số giọt cồn thuốc phiện dì Rachel đã dùng - Elissande nhận thấy là dì cô đã uống nhiều hơn thông thường ba giọt, không ngờ gì là để xóa đi nỗi kinh hoàng ngài Vere đã mang đến bằng cách đề nghị đưa bà trở lại Highgate Court.

“Thấy chưa, anh nói với em rồi”, chồng cô nói. “Bà Dilwyn sẽ rất nuông chiều bà Douglas. Bà ấy chiều chuộng anh không kể xiết mỗi khi anh hơi sổ mũi một chút”.

“Mẹ tôi đã bị nằm liệt giường trong hai năm cuối cuộc đời. Ngài Vere đã tốt bụng cho phép bà ấy ở cùng phòng với tôi, để tôi có thể chăm sóc bà ấy”, bà Dilwyn nói.

“Anh rất thích có bà ấy ở bên cạnh. Bà ấy thường nói rằng anh là người đàn ông đẹp trai nhất trên đời”.

“Ổ, tất nhiên là thế thưa ngài”, bà Dilwyn nói với vẻ yêu mến chân thành.

Ngài Vere cười điệu.

Bà Dilwyn nghiêng người lại gần với Elissande và hạ thấp giọng. “Bà Douglas có gì bất thường không? Tôi biết vì mẹ tôi đã từng thế”.

“Vâng, không may là thế”, Elissande nói. “Bà ấy không thích rau và ghét mận khô”.

“Mẹ tôi cũng ghét mận khô. Tôi sẽ thử xem bà Douglas có thích mơ ngâm hơn không”.

“Cám ơn”, Elissande nói, có phần hơi sững sờ. Cô không quen có người chia sẻ gánh nặng với mình.

Cô đã được nhìn dì Rachel ngủ trên giường. Sau đó ngài Vere giục giã cô ra khỏi phòng.

“Giờ thì nhanh lên, nếu không chúng ta sẽ lỡ tàu mất”.

Cô thực hiện lời cầu khẩn cuối cùng khi anh kéo cô dọc hành lang đi đến thang máy. “Chúng ta phải đi sao? Sớm thế ư?”

“Tất nhiên”, anh trả lời. “Em không muốn người nuôi dưỡng em gặp người chồng rất tử tế của mình sao? Anh phải nói với em rằng anh rất háo hức. Anh chưa bao giờ gặp một ông chú vợ trước đây. Bọn anh sẽ quen thân nhanh thôi, ông ấy và anh ý”.

Sự tiến bộ trong hội họa của Freddie có công của Angelica rất nhiều. Cô là người đã xem những bức phác thảo bằng bút chì và đề nghị anh thử vẽ tranh màu nước, và sau đó là tranh sơn dầu. Cô đã đọc những cuốn sách khó nhằn về cách pha màu trong tranh sơn dầu rồi tóm tắt lại cho anh. Cô đã giới thiệu với anh những tác phẩm thuộc trường phái Ấn tượng, qua cuốn nhật ký nghệ thuật cô mang về từ những chuyến du lịch ở Pháp với gia đình.

Anh chưa bao giờ có thể làm việc khi có người bên cạnh, ngoại trừ cô.

Ngay từ đầu cô đã ở đó với anh, thường là với một cuốn sách dày trong lòng, chìm đắm trong sở thích riêng. Thỉnh thoảng cô đọc thành tiếng: những lý giải của khoa học tại sao lượng chì trong sơn làm cho những bức tranh nhanh chóng bị sạm đi, một bài thơ dí dỏm của Michelangelo viết cho một anh chàng trẻ đẹp, bảng liệt kê những tác phẩm nổi tiếng được trưng bày ở Salon des Refusés năm 1863 [1].

[1] Cuộc triển lãm những tác phẩm bị hội đồng thẩm định của Paris Salon (cuộc triển lãm nghệ thuật chính thức của Viện nghệ thuật hàn lâm Pháp) từ chối trưng bày ở các phòng triển lãm của họ.

Vì thế theo cách nào đó, làm việc khi có cô ở bên cạnh đã trở nên hết sức quen thuộc với anh.

Ngoại trừ tình trạng khỏa thân của cô.

Cô nằm nghiêng trên chiếc giường anh đã sai người làm đưa vào phòng vẽ, lưng quay về phía anh, một tay chống đầu và đang đọc cuốn Báu vật của Nghệ thuật Vương quốc Anh.

Mái tóc cô buông lơi, những lọn tóc nâu sẫm xen lẫn với sắc hung đỏ nguyên thủy. Làn da cô mờ ảo, tỏa sáng từ bên trong. Cặp mông mềm mại của cô khiến những ngón tay anh siết mạnh vào bút. Nhưng cũng chỉ là trước khi anh nhìn đến ngực và khu vực tam giác bị che khuất giữa đùi phản chiếu trong chiếc gương cô đã chủ tâm đặt ở phía bên kia giường.

Từng phút một anh phải nhắc mình nhớ rằng mục đích của anh là nghệ thuật và tôn vinh cái đẹp. Vẻ đẹp của cơ thể cô cũng là một phần của tự nhiên như vỏ cây gỗ bulô trơn mượt hoặc những làn sóng nhấp nhô chan hòa ánh nắng của một mặt hồ vào mùa hè. Anh đã không hề gặp khó khăn để ca tụng hình dáng, màu sắc và sự phối hợp ánh sáng của tự nhiên.

Nhưng lúc này anh không muốn gì hơn là vứt bút chì xuống, bước tới gần sự kết hợp của vóc dáng, màu sắc và phối hợp của ánh sáng này, và...

Thay vì làm thế, anh nhìn xuống cuốn sổ phác thảo. Cùng chẳng có ích mấy. Anh đã vẽ xong rất nhiều bức vẽ, một bức là phác thảo chung chung của toàn bộ bối cảnh, một bức phác thảo dáng người nghiêng nghiêng và mái tóc, một bức vẽ phần giữa cơ thể và một bức là những gì anh nhìn thấy trong gương.

“Anh biết không, Freddie”, cô nói, “trước khi em quay lại Anh, em nghĩ chuyện xảy ra với quý bà Tremaine chắc sẽ khiến anh buồn bã và oán hận. Nhưng anh vẫn là con người trước đây”.

Đúng là Angelica, luôn gợi lên những chủ đề không đoán trước được. Anh nhìn vào khung tranh trắng anh đã chuẩn bị.

“Chuyện đó đã qua lâu rồi, Angelica. Bốn năm rồi”.

“Nhưng anh đã hoàn toàn hồi phục chưa?”‘

“Cô ấy không phải là một căn bệnh”.

“Vậy còn việc mất cô ấy?”

“Cô ấy chưa bao giờ là của anh”. Anh lấy một cái bút chì sắc hơn từ trong hộp. “Anh nghĩ anh biết ngay từ đầu rằng quan hệ của bọn anh chỉ là tạm bợ mà thôi”.

Anh đã hạnh phúc ngất ngây với quý bà Tremaine. Nhưng niềm hạnh phúc của anh luôn có một nỗi lo lắng sâu sắc. Khi cô đoàn tụ với chồng, anh đã đau đớn nhưng không cay đắng, bởi vì đó không phải là một sự phản bội mà chỉ là sự kết thúc của một kỷ nguyên tuyệt vời trong cuộc đời anh.

Anh lật sang trang mới trong cuốn sổ phác thảo và vẽ đôi bắp chân thon gọn của Angelica, ước rằng bàn tay anh là cây bút chì, rằng khi bức vẽ thành hình, anh có thể trượt lòng bàn tay trên làn da mát rượi, mềm mại của cô.

Quý bà Tremaine từng nói với anh rằng Angelica yêu anh. Freddie hiếm khi đặt câu hỏi với những lời nói của quý bà Tremaine, nhưng lời nói đặc biệt này xuất hiện khi quý bà Tremaine quyết định quay lại với chồng mình, cô mong Freddie cũng sẽ kết hôn với ai đó. Với bất kỳ ai.

Nếu Angelica yêu anh, cô chắc chắn chưa từng nói về tình yêu đó và cô chưa bao giờ là người ăn nói giữ ý trước mặt anh. Ngay cả nếu quý bà Tremaine nói đúng, bốn năm đã trôi qua, một thời gian quá dài để cho tình cảm có thể vẫn vẹn nguyên không đổi trong lúc xa cách.

Anh lại liếc nhìn Angelica. Đầu cô hơi nghiêng, sự tập trung của cô chìm đắm trong cuốn sách. Cô thậm chí còn đang ghi nhanh những ghi chú trên lề. Đây không phải là một sự quyến rũ.

“Anh nghĩ hôm nay vậy là đủ rồi”, anh nói, khép cuốn sổ phác thảo lại. “Anh sẽ ra ngoài”.

Angelica sẽ không nói rằng cô yêu Freddie mãi mãi. Mãi mãi có nghĩa là một sự mù mịt về thời gian, những năm tháng mơ hồ của thời thơ ấu. Tình yêu của cô có một điểm bắt đầu nhất định ở một thời điểm rất lâu sau đó, khi cô mười bảy và anh mười tám tuổi.

Anh trở về nhà sau năm học thứ nhất ở nhà thờ Christ. Và cô đã quyết định đến ở nhà quý bà Margaret. Khi anh ngồi vẽ bên bờ sông Stour, cô đã thả người xuống một chiếc chăn dã ngoại không xa anh lắm, hỏi anh rất nhiều câu hỏi về Oxford như cô muốn và để phê bình anh khi anh đang làm việc. Cô không vẽ nhưng cô có một con mắt sành sỏi tuyệt vời. Và cô cực kỳ tự hào rằng bốn năm trước, cô đã là người giải thích cho anh rằng người ta không sử dụng màu trắng tinh để làm nổi bật một màu, mà sử dụng sắc màu nhạt hơn của màu muốn làm nổi.

Cô đang ăn một quả đào thơm giòn và ném những viên sỏi xuống dòng sông không rộng hơn một cái bồn tắm, và nói với anh rằng anh cần pha thêm màu xanh lơ vào màu xanh lá cây nếu anh muốn thể hiện đúng màu thẫm của tán lá mùa hè. Cô không bao giờ biết chắc được anh có nghe theo lời khuyên đặc biệt đó hay không, bởi vì anh không nói gì, mà chỉ cắn răng ngậm chiếc bút đầu cong đang sử dụng và với lấy một cái bút đầu góc nhọn khác.

Ngay lập tức tia sét đánh trúng cô. Cô nhìn chằm chằm vào anh như thể cô chưa bao giờ nhìn thấy anh trước đây, người bạn lâu năm nhất của cô đã trưởng thành, và cô không muốn gì hơn là được trở thành cây bút kia, để cảm nhận môi anh trên môi cô, và lưỡi anh, và sức ép chắc chắn của răng anh.

Nhưng nếu cô là một người bạn hay ra lệnh đầy tự tin, luôn chắc chắn rằng tình bạn của họ sẽ nhẹ nhàng vượt qua tất cả những lời khuyên và chỉ trích cô luôn bắn về phía anh, cô lại chứng tỏ mình là một người hoàn toàn không biết quyến rũ.

Anh không chú ý đến những bộ váy và mũ mới cô mua để lôi cuốn anh. Anh không thở dốc khi cô ra sức dạy anh nhảy tốt hơn chỉ để cho anh có một mở đầu dễ dàng để hôn cô. Và khi cô cường điệu nói về người đàn ông khác, với hy vọng khơi lên lòng ghen tuông của Freddie, anh chỉ nhìn cô đầy vẻ thắc mắc và hỏi rằng đây không phải chính là người cô đã không thể chịu đựng nổi trước đó hay sao.

Cách tiếp cận tốt hơn là thú nhận tình yêu và tuyên bố cô là một ứng cử viên cho lời cầu hôn của anh. Nhưng khi những nỗ lực tinh tế hơn nhằm dành lấy trái tim anh càng thất bại, cô càng trở nên nhút nhát. Và ngay lúc cô tin rằng có lẽ anh chỉ là không thể xây dựng một mối quan hệ lãng mạn với một phụ nữ độc lập, anh lại yêu quý bà Tremaine đẹp mê hồn và táo bạo, người không quan tâm đến ý kiến của ai ngoài của mình.

Khi quý bà Tremaine bỏ Freddie để trở lại với chồng, cơ hội của Angelica cuối cùng đã đến. Anh đang cùng quẫn. Anh đang tổn thương. Anh cần ai đó để trám chỗ quý bà Tremaine trong cuộc đời anh. Nhưng khi cô đến với anh, cô ngu ngốc nói, em đã bảo anh rồi, và anh đã dứt khoát yêu cầu cô hãy để anh một mình.

Cô mặc đồ xong. Anh đang ở ngoài phòng vẽ đợi cô. Suốt bốn năm cô ở xa, anh đã đánh mất vẻ mũm mĩm trẻ con vẫn bám chặt lấy anh ở tuổi hai tư. Và dù anh không bao giờ có vẻ đẹp như tạc của Penny, cô thấy anh vô cùng đáng yêu, khuôn mặt anh dịu dàng như bản tính của anh.

Ngay cả khi anh mập mạp hơn, cô vẫn thấy anh cực kỳ đáng yêu.

“Anh có thể mời em một tách trà không?” anh nói.

“Được thôi”, cô nói. “Nhưng em muốn đáp lại sự giúp đỡ của anh trước. Những tấm ảnh anh chụp bức tranh kia đã rửa xong chưa?”

“Chúng vẫn ở trong phòng tối”.

“Đi xem chúng nào”.

Phòng vẽ ở tầng trên cùng để có thể tận dụng ánh sáng. Phòng tối ở tầng dưới, kích thước khoảng hai mét và hai mét rưỡi, không lớn hơn một cái tủ. Trong ánh sáng nâu hổ phách của một chiếc đèn ánh sáng yếu, những vật dụng rửa ảnh như chậu, chai và một chiếc đèn âm bản được bày gọn gàng dọc một bức tường, một chiếc bàn làm việc kê dọc một bức tường khác. Những chai hóa chất có dán nhãn rõ ràng được xếp gọn gàng trên kệ gắn vào tường.

“Anh lập phòng tối ở đây lúc nào?” Anh đã có thêm thú chụp ảnh sau khi cô ra đi, chính xác hơn là khi quý bà Tremaine ra đi. Anh đã từng gửi cho Angelica một bức ảnh của chính anh và cô đã dán nó vào cuốn nhật ký của mình.

“Anh không nhớ chính xác, nhưng nó vào khoảng thời gian chồng em qua đời”.

“Anh đã gửi một lá thư chia buồn rất tử tế”.

“Thực sự anh không biết nói gì. Em gần như không bao giờ nhắc đến anh ấy trong thư”.

Anh đẩy nhẹ lưng cô để hướng dẫn cô đi vào sâu trong phòng. Cô yêu bàn tay ấm áp của anh, anh có hai bàn tay lớn nhưng lại có thể vẽ những chi tiết tinh tế đến lạ thường. Trong nhiều năm, cô đã đi vào giấc ngủ trong khi nghĩ đến những cái vuốt ve từ đôi bàn tay mạnh mẽ và khéo léo đó.

“Đó là một cuộc hôn nhân bình lặng”, cô chậm rãi nói. “Chúng em đã sống riêng rất lâu trước khi anh ấy qua đời”.

“Anh lo lắng cho em”, anh lặng lẽ nói, bằng vẻ chân thành bẩm sinh đã khiến cô yêu anh rất nhiều. “Khi chúng ta còn trẻ, em từng nói rằng em thà trở thành một bà cô già tự lập còn hơn là một người vợ hờ đã kết hôn”.

Không phải cô hoàn toàn thiếu tự tin vào bản thân sao? Đến khi có vẻ như cô không bao giờ có thể có được anh, cô đã kết hôn với một người lạ hoắc và để lại nước Anh sau lưng nhanh chóng đến không ngờ.

“Em ổn cả”, cô nói, không định gay gắt như thế. “Em ổn mà”.

Anh không nói gì, như thể anh không tin lời trấn an của cô nhưng không muốn nói thẳng ra như thế.

Cô hắng giọng. “Này, Freddie, cho em xem những bức ảnh của anh đi”.

Những tấm ảnh kích thước mười nhân mười hai centinmet đang được gắn trên dây phơi.

“Ôi Chúa tôi”, Angelica nói, dừng lại trước tấm ảnh những con chuột. “Làm sao có thể như thế được?”

Cô đã cuộn tóc lên, nhưng nó là một búi tóc rất lỏng lẻo và dường như có nguy cơ tuột ra. Hoặc là do anh muốn kéo nó xõa xuống? Mùi của hóa chất váng vất trong không khí, nhưng Freddie đứng sau lưng cô đủ gần để ngửi thấy mùi nước hoa hương cam của cô, ngọt ngào và quý phái.

“Em phải nghe những tiếng gào thét. Penny đã buộc phải tát một quý cô để ngăn cô ấy lại”.

“Em không thể tưởng tượng ra Penny lại tát ai đó”.

“Anh ấy đã tát rất cương quyết”, Freddie tỉnh bơ nói. “Điều đó khiến anh cũng khá ngạc nhiên. Đây là những tấm ảnh chụp bức tranh đó”. 

Anh bật thêm một chiếc đèn an toàn khác. Cô nheo mắt nhìn những bức ảnh vẫn còn ướt.

“Em hiểu ý anh rồi”, cô nói. “Em đã gặp một bức tranh có phong cách và lối thể hiện rất giống như thế này. Nó vẽ một quý cô trong bộ dạng thiên thần màu trắng - đôi cánh trắng to, váy trắng và một bông hồng trắng trong tay. Và có một người đàn ông nằm dưới đất, nhìn lên cô ấy”.

“Ôi Chúa tôi, trí nhớ em thật phi thường.”

“Cám ơn”, cô cười rạng rỡ với anh. “Khi em về nhà, em sẽ đọc lại nhật ký và xem xem em có ghi lại về nó không. Thỉnh thoảng em vẫn làm thế, nếu một tác phẩm nghệ thuật gây ấn tượng với em theo cách nào đó”.

Anh tự hỏi cô có nghiên cứu nhật ký giống cách cô nghiên cứu cuốn Báu vật của Nghệ thuật Vương quốc Anh không; không quần áo, một sợi tóc xõa ra vuốt ve núm vú và một ngón chân cô lơ đãng vẽ những vòng tròn trên ga trải giường.

Ánh mắt họ khóa vào nhau. Mắt cô sáng rực và đầy mong đợi.

“Em có thực sự ổn không?” anh nghe mình hỏi.

Ánh sáng tắt trong mắt cô. “Đó không phải là một nỗi đau thực sự. Nhưng lại không đáng, cả việc có một người chồng chỉ để có một người chồng. Em đã yêu cầu hủy bỏ hôn nhân ngay trước khi Giancardo chết. Em sẽ không bao giờ phạm phải sai lầm như thế lần nữa”.

“Tốt”, anh nói, mặc dù anh đã nhức nhối vì khoảng thời gian gần hai năm cô đánh mất cho cuộc hôn nhân không đáng của cô. Anh siết chặt tay cô một lúc. “Anh vui vì cuối cùng em đã nói với anh; em không bao giờ cần phải miễn cho anh bất kỳ câu trả lời chân thành nào”.

“Được rồi, sau này em sẽ không”. Cô hơi mỉm cười. “Anh có câu hỏi nào cần được trả lời một cách thành thật không?”

Anh đỏ mặt. Giá như cô biết. Nhưng làm thế nào một người hỏi người bạn lâu năm nhất của mình rằng cô ấy có muốn làm tình với anh ta không? Anh có thể đã nhìn thấy cô phá lên cười ầm ĩ. Freddie, đồ ngốc, đồ ngốc. Anh lấy cái ý tưởng đó ở đâu ra thế?

“À, ừ”, anh nói. “Bây giờ em có muốn uống trà không?”

Cô hạ mắt xuống một lúc. Khi cô lại nhìn anh, biểu hiện của cô rất thản nhiên. Anh tự hỏi có phải anh tưởng tượng ra bóng tối lướt qua mắt cô.

“Thay vì thế anh có cà phê không?” cô hỏi.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.