Nắng Soi Qua Chiếc Lá Khung Châu

Chương 9: Chương 9: Lầu Thơ




Qưới Thạnh ngồi ở dưới thì thầm với Minh Châu:

“Em xem, mấy tên kia có vẻ cay cú thấy rõ.”

Minh Châu nhìn từng người. Quả thật Viên Suất của Hổ tộc có vẻ hậm hực không phục, nhưng những người kia thì không thể hiện gì, dửng dưng đi về chỗ ngồi.

“Anh ba, đừng nghĩ xấu cho người khác thế. Em thấy ngoài Viên Suất ra, có ai cay cú đâu.”

“Em không biết rồi. Người bề ngoài thâm trầm khó đoán như vậy, mới là kẻ nguy hiểm nhất.”

Minh Châu nhíu mày, cảm thấy anh mình đánh giá người khác có hơi phiến diện, suy diễn đều không có căn cứ, nên không để vào tai.

Đúng lúc Qưới Thạnh đang định nói tiếp thì tự dưng hoảng hốt, đập tay nàng điên cuồng.

Nàng quay lại xem, chỉ thấy Qưới Thạnh đang mở miệng nói, nhưng không phát ra được âm thanh nào. Minh Châu mờ mịt hỏi:

“Anh ba lại bày trò gì thế?”

Nhưng toàn bộ lời nói của nàng cũng không phát ra thanh âm nào. Minh Châu kinh hãi vô cùng, ráng sức gào thét nhưng vô vọng.

Đằng Châu Thần Quân hắng giọng, giọng nhẹ nhàng nhưng đầy nguy hiểm:

“Thế Huân, Minh Châu. Nói chuyện riêng trong lớp gây mất trật tự. Phạt chép lại toàn bộ bài học hôm nay một trăm lần.”

Cả lớp quay ra nhìn hai người. Minh Châu xấu hổ cúi gằm mặt.

“Vừa nãy ta vừa thực hiện phép gì? Nếu hai trò đáp lại được, ta sẽ miễn hình phạt cho.”

Minh Châu liền giơ tay. Nàng đứng dậy nói thì thấy mình có lại được thanh âm, mừng rỡ vô cùng.

“Thưa thầy, đó là phép diệt thanh, được ghi chép trong sách Thần Thông Loại Chí trang ba mươi hai.”

“Ồ, nãy con có nghe được ta niệm chú hay bắt ấn đâu, sao con cho rằng đó là phép diệt thanh?”

Minh Châu nhìn về phía góc lớp có một lư hương, mỉm cười đáp:

“Thưa thầy, trò mạn phép đoán, thầy đã dùng nhãn ấn. Kết ấn bằng thủ ấn chỉ là phương pháp sơ cấp. Còn đã lên cấp thần như thầy, hoàn toàn có thể kết ấn bằng mắt.”

Cả lớp ồ lên kinh ngạc. Dùng nhãn ấn là phương pháp thi triển phép thuật ở dạng trung cấp, đòi hỏi đạo hạnh thâm sâu. Từ sơ cấp lên được trung cấp là một con đường rất dài, rất gian nan mà không phải ai cũng đột phá được. Người, yêu, hay con cháu thần tộc sinh ra đã có cốt tiên tu tiên nhiều vô số, nhưng đạt đến trình độ có thể dùng nhãn ấn chỉ được một phần mười.

Đằng Châu Thần Quân nhướng mày, tỏ ý ngạc nhiên. Có thể trong chốc lát nhìn thấy nhãn ấn, không phải môn sinh sơ cấp nào cũng đủ tinh tường đến vậy.

Môn sinh bên dưới có người đang gà gật, đột nhiên bị cốc đầu một cái, giật mình tỉnh dậy, kêu oai oái. Chàng ta ngước mắt nhìn lên, chỉ thấy một cái hốt(1) đang bay lơ lửng ngay trên đầu mình, hốt hoảng ngã ra sau.

Cả lớp được phen cười ồ, nhưng trong lòng rất kinh hãi. Chiếc hốt đó bay lên khi nào không có ai hay biết, đến hay đi đều không một tiếng động. Chỉ có thể là do Đằng Châu Thần Quân đã dùng nhãn ấn để điều khiển.

Minh Châu nén cười, nói tiếp:

“Thủ ấn là hội linh bên trong còn Nhãn ấn là phương pháp hội linh bên ngoài, nghĩa là dùng ánh mắt vẽ hình ảnh trên nền khói của nén hương hay ngọn lửa, kết ấn thành hình để triệu hồi quỷ thần làm thay mình. Phương pháp này hiệu quả lại không tốn quá nhiều linh lực.”

Đằng Châu Thần Quân vuốt râu cười:

“Chính xác, ta tha cho trò không phải chép phạt. Nhưng trò là môn sinh ưu tú, phải làm gương cho những người khác. Lần sau tuyệt đối không được tái phạm, không ta phạt nặng gấp đôi, nghe chưa?”

Minh Châu dạ một tiếng rõ to rồi ngồi xuống. Qưới Thạnh cứ giật giật tay áo nàng.

Phiêu Tri nhìn sang, thấy vậy liền trừng mắt với chàng. Hai người đấu mắt với nhau một hồi rồi Qưới Thạnh hậm hực quay mặt đi, ngồi im cả buổi.

Một canh giờ sau thì lớp Pháp thuật cũng kết thúc, phép diệt thanh được giải trừ. Qưới Thạnh ngay lập tức nói liên mồm

“Trời ơi một trăm lần bài học...”

Minh Châu bĩu môi:

“Cho anh chừa, suýt chút nữa thì em cũng bị anh hại rồi.”

“Em vậy mà không xin cho anh. Đúng là quá đáng. Dù gì em cũng là...” Qưới Thạnh định nói hai chữ “em gái” thì thấy Phiêu Tri, liền ngậm miệng lại.

“Cũng là cái gì? Anh tốt nhất là tránh xa Minh Châu ra.” Phiêu Tri kéo Minh Châu về phía mình, đẩy Qưới Thạnh ra một cách đầy ghét bỏ.

“Cô là cái gì mà bảo tôi không được lại gần Minh Châu?” Qưới Thạnh vốn đã bực mình, lần này nhịn không nổi nữa, xắn tay áo lên cãi tay đôi với Phiêu Tri.

“Tôi là bạn thân nhất của Minh Châu, đương nhiên là tôi không muốn nàng ấy bị loại hư hỏng như anh ảnh hưởng xấu rồi.” Phiêu Tri ôm lấy tay Minh Châu, vẻ mặt đắc thắng chọc cho Qưới Thạnh sôi máu.

“Cô... cô quen Minh Châu được mấy ngày chứ? Cô biết tôi là gì của em ấy không? Tôi... tôi chơi với anh em họ từ bé đến lớn... cô không thân thiết được với họ bằng tôi đâu.” Qưới Thạnh tức giận lắm mà không làm gì được. Đường đường là cậu ba của Long tộc mà phải cãi nhau với người ngoài để giành em mình.

“Anh bốc phét vừa thôi. Minh Châu ở Thoải Phủ, anh thì ở trên núi. Gặp nhau còn khó chứ đừng nói có qua lại với nhau.” Phiêu Tri hừ giọng.

“Chuyện này thì có gì lạ đâu. Kinh Dương Vương có tài đi lại dưới Thoải Phủ, tôi cũng có.” Quới Thạnh vênh mặt đáp.

Hai người cự cãi một hồi, Minh Châu can cũng không nổi. Rồi chẳng hiểu giằng co thế nào, cái ngân khánh của Qưới Thạnh lại mắc vào dây chuyền và xà nách(2) của Phiêu Tri. Cả hai cố gắng gỡ mãi mà không ra, lại cãi nhau hăng hơn.

Đúng lúc đó lục lạc của Qưới Thạnh rung lên, kêu leng ca leng keng, hại hai kẻ oan gia cũng rung bần bật như người bị trúng gió. Tình hình đã rối lại càng thêm rối, mà cả hai bận cãi nhau nên cũng quên luôn phải làm phép thế nào.

Minh Châu phải chạy ra, dùng phép gỡ ra giúp hai người. Phiêu Tri lảo đảo đứng dậy, chỉnh lại quần áo thì một tấm khăn màu vàng thêu rồng rơi ra.

Qưới Thạnh bắt lấy tấm khăn, ồ lên:

“Ơ, đây là khăn của tôi mà? Cô nương, cô ghét tôi mà giữ khăn của tôi không trả, là có ý gì đây?”

Mặt Phiêu Tri đỏ ửng lên, nàng không biết phải đáp sao, quanh co đáp vội, âm vực cao hơn hẳn bình thường:

“Thì bây giờ tôi trả cho anh đấy. Ai thèm cái khăn rách của anh chứ.” Rồi nàng thẹn quá bỏ chạy. Minh Châu cũng đi theo.

Qưới Thạnh cầm chiếc khăn mà ngơ ngác, quay ra hỏi Kình Sang:

“Chú nói anh nghe, rốt cuộc là cô gái này bị làm sao vậy? Anh không thể hiểu nổi.”

Kình Sang lắc đầu, cười cười nói:

“Cái này anh hỏi em, em cũng không trả lời cho anh được. Anh về Thoải Phủ hỏi ông nội hoặc đến Kì Mang tộc hỏi Kinh Dương Vương đi. À mà quên, còn phải xem nạ hết giận chưa đã.” Nói rồi Kình Sang vỗ vai Qưới Thạnh, rồi cũng đi mất.

Chỉ còn lại anh chàng Qưới Thạnh cầm chiếc khăn mà ngẩn tò te, gãi đầu gãi tai mãi vẫn chưa hiểu gì.

....

Lớp học tiếp theo là Võ học. Minh Châu không theo lớp đó, Phiêu Tri lại trốn ở Thiên Sơn Ngũ Nhạc nên Minh Châu còn có một mình. Nàng đành tới Văn Khố tìm vài quyển sách đọc, sẵn tiện thăm thú thêm vài nơi.

Văn Khố là một dãy nhà rất rộng, chứa các loại sách, thư tịch cổ, đủ mọi thể loại từ xưa đến nay. Các loại sách quý hiếm hơn được cất ở lầu Thơ.

Minh Châu vừa bước lên lầu, các môn sinh đứng đó trông thấy nàng đã vội dạt ra tránh đường.

Nàng thấy rất lạ, không hiểu tại sao mọi người lại như vậy, chỉ nghe được tiếng mọi người đang xì xào ở đằng sau:

“Là nàng ấy kìa.”

“Là Quán Trường(3) của chúng ta sao?”

“Cái kim bài sáng chói đeo trước ngực đó, anh không thấy à?”

Minh Châu có cảm giác như mình giống một con thú lạ đi lạc vào chỗ không phải đồng loại của nó, bị mọi người xung quanh xúm lại chỉ chỉ trỏ trỏ. Từ trước đến nay nàng chưa từng trải qua tình cảnh này nên có chút không quen chứ cũng không hẳn là sợ.

“Là người đỗ đầu có khác, khí chất thật thoát tục. Ôi ngưỡng mộ quá!”

“Vừa nãy ở lớp Pháp thuật nàng ấy trả lời đâu ra đấy. Đổi lại là tôi, chắc là đứng im luôn rồi.”

“Đừng thần thánh hoá nàng ta lên thế chứ? Đọc sách nhiều sẽ biết hết những thứ đấy thôi. Trong thế giới thần tiên này, không phải đạo hạnh mới quan trọng hay sao?”

“Ây, anh xem nếu em đấu với cô ấy, liệu ai sẽ thắng?”

Lời bàn tán đa dạng đủ loại. Thiện cảm có, ác cảm có. Minh Châu vờ như không nghe thấy, chăm chú tìm sách.

Lầu Thơ lưu trữ những sách quý hiếm, sách cổ, tình trạng bảo quản cũng tốt hơn Văn Khố lưu trữ những sách đại trà. Sách được chia ra thành từng kệ, phân theo thể loại. Có sách phép, sách y, sách văn chương, sơ đồ, hình vẽ cơ quan, mật đạo, binh khí,...

Minh Châu đi tới một kệ sách nằm ở góc trong cùng, ghi chép về các sách cổ và các bí thuật thất truyền.

Nàng mải mê xem đến mức không nhìn thấy ở trong góc có người đang đứng, đụng phải người ta. Nàng hốt hoảng xin lỗi, quay lại thì nhận ra đó là một nam sinh của tộc Hồ Ly.

“Là Minh Châu của Long tộc phải không?”

Chàng trai đó mi thanh mục tú, nhẹ nhàng như nước, phiêu lãng như mây, khoé mắt cứ cong cong như đang cười. Minh Châu ngờ ngợ hỏi:

“Có phải bạn là Hạ Suất của tộc Hồ Ly?”

“Chính là mỗ.” Hạ Suất gật đầu. Tay phải chàng cầm một cuốn sách bằng tiếng Phạn, tay kia cầm một chiếc quạt giấy. Minh Châu nhìn cảnh núi non được châm kim trên quạt, tấm tắc khen:

“Cảnh đẹp, thơ hay. Người làm ra chiếc quạt này thật ưu nhã. Chắc hẳn là một nhân vật không tầm thường.”

“Bạn thật có mắt nhìn. Chiếc quạt này do cha mỗ làm ra.”

“Thảo nào, dám hỏi cảnh trên quạt của bạn là nơi nào?”

“Đây là đất Hoà Khánh, nơi mỗ sinh ra và lớn lên. Minh Châu cô nương, chúng ta là bạn đồng môn, không cần quá khách sáo. Mỗ vừa năm trăm tuổi tròn, bạn thì sao?”

“Mình mới ba trăm, chúng ta gọi nhau là anh em đi. Thế sẽ tiện hơn.”

Hạ Suất khụ một tiếng, lấy quạt che miệng rồi phá ra cười ha hả. Minh Châu không hiểu mình nói sai chỗ nào, rất bối rối. Hạ Suất cười đến chảy nước mắt, phải đưa tay lau.

“Mỗ nghe nói nếp sống của người của Thủy tộc khá thoải mái, cũng có chỗ khác. Ở chỗ mỗ nam nữ gọi nhau là anh em là có ý với nhau đấy.”

Minh Châu vô cùng ngạc nhiên. Nàng vội xua tay, lúng búng trong miệng:

“Không, bạn đừng hiểu lầm, mình chỉ nghĩ là kết nghĩa anh em bình thường thôi.”

Hạ Suất cười lớn, phe phẩy quạt:

“Lần đầu tiên mỗ thấy một cô nương thoải mái hào sảng như nàng. Được rồi, vậy chúng ta kết nghĩa anh em.”

Sau đó cả hai nói chuyện về sách, về các bí thuật thất truyền, càng nói càng say sưa. Không ngờ Hạ Suất là người rất am hiểu về lĩnh vực này.

Minh Châu đánh bạo hỏi chàng:

“Vậy anh có biết phép làm biến mất chữ không?”

“Thuật giấu chữ không có gì lạ, nhưng anh từng nghe nói về một loại sinh vật thích ăn chữ. Chúng là kẻ thù của những loại sách cổ. Văn Khố mỗi năm đều phải diệt loài này trên quy mô lớn.”

“Sinh vật ăn chữ ư?”

“Đúng vậy, có thể trong mực viết có thứ chúng thích ăn. Thông tin về nó anh đọc trong một cuốn sách cổ. Hình như nó ở đây.”

Hạ Suất lần tìm trong kệ sách, rút ra một cuốn viết bằng thứ chữ rất lạ. Minh Châu đón lấy, lật đi lật lại xem:

“Đây là chữ cổ ư?”

“Đúng vậy, đây là chữ Đà La Ni. Loại chữ này đã thất truyền nhưng vẫn có một nhóm môn sinh nghiên cứu về nó. Chắc sẽ tốn kha khá thời gian tra cứu đấy, em nên thuê lại đi.”

Minh Châu nghe lời. Nàng đi tới chỗ thủ thư là một ông lão râu tóc bạc phơ, xưng là Nhiếp Luân Tiên Quân. Lúc nàng tới, ông lão vẫn còn đang gà gật.

Nàng phải gọi tới ba lần, ông lão giật mình choàng dậy, kéo cái mục kỉnh đang để trên đầu đeo lại vào mắt. Đoạn ông hắng giọng hỏi:

“Tên gì?”

“Minh Châu ạ.”

Ông lão ngưng viết, chỉnh lại mục kỉnh, chăm chú nhìn nàng. Chắc sau đó ông trông thấy kim bài nàng đeo, liền phất tay bảo không cần ghi tên nữa, nàng cứ mang về đi.

Nàng không ngờ kim bài Khai Niên quán trường đem lại rất nhiều ích lợi đến thế, vui mừng quay trở lại tìm Hạ Suất, thì thấy chàng ta đang đứng cạnh một nam sinh bận đồ màu trắng, dáng vẻ cao lớn chững chạc.

“Minh Châu, đây là Thạch Tuyên, là tiền bối đang học ở hệ cao cấp. Anh ấy đã nghiên cứu chữ cổ rất nhiều năm rồi. Thạch Tuyên, đây là Minh Châu.”

Hai người chắp tay chào hỏi. Minh Châu lần đầu được gặp tiền bối, cung kính bội phần.

“Em chào anh, thật may vừa đúng lúc muốn thỉnh giáo anh một chút về tài liệu cổ này.”

Minh Châu đưa cuốn sách viết bằng cổ ngữ Đà La Ni ra. Thạch Tuyên chỉ cần nhìn qua đã nói:

“Là quyển Dị Vật Quái Tượng Phương Nam. Nội dung trong này rất nhiều, em muốn hỏi anh về phần nào?”

“Là về một loại quái chuyên ăn chữ.”

“À, đó là con sâu sách. Bản chất là một loài kí sinh, chỉ sống trong đất hút nhựa cây. Nhưng khi các bậc tiên hiền mang tinh hoa trí tuệ của mình viết lên sách thì có thôi năng trong đó. Loài sâu sách này đặc biệt bị hấp dẫn bởi thôi năng nên chúng tấn công các loại sách cổ.”

“Vậy làm sao để diệt được nó?”

Thạch Tuyên cầm quyển sách lên, lật giở một hồi, rồi đưa tới trước mặt Minh Châu.

“Cần phải nghiên cứu về chỗ này.”

Minh Châu đành phải ở lại lầu Thơ tra cứu chữ cổ đến tận tối mịt. Sau đó nàng vội tạm biệt Thạch Tuyên và Hạ Suất rồi chạy về tịnh xá.

Theo như những gì nàng tra cứu được, muốn đuổi được con sâu sách ra khỏi cuốn sách cổ, cần phải xông trầm hương.

Minh Châu lấy từ trong hà bao ra một lư hương bằng bạc, bỏ chút trầm hương rồi đặt quyển sách cổ nàng mua từ tiệm Vạn Bảo lên một cái gác bằng sắt. Hương trầm toả ra khắp phòng, khiến người thư thái, dễ chịu.

Minh Châu không hay dùng hương trầm lắm, có lẽ vì với nàng nó hơi nồng. Nên trước giờ nàng chỉ xông bằng loại bột nàng tự chế từ hương nhu và vỏ bưởi.

Xông hương như thế đã được một khắc, Minh Châu lim dim mắt như muốn ngủ thì nghe thấy tiếng giấy sột soạt. Nàng choàng tỉnh, tới gần cuốn sách cổ xem, thì thấy trên trang giấy nổi lên những đường ngoằn nghèo, có thể thấy rõ là một con sâu dài, rất dài đang di chuyển giữa những trang sách.

Nàng cố nén cảm giác ghê tởm, cầm lư hương dụ dỗ nó vào trong chậu nước nàng để sẵn. Con sâu bò ra khỏi trang sách, lần theo mùi hương trầm. Nó dài tới mức nàng phải đợi rất lâu nó mới chui hết vô cái chậu.

Sau đó nàng đậy nắp chậu lại, dán lên đó một đạo bùa vẽ bằng chữ Đà La Ni. Con sâu cục cựa trong chậu một hồi mới chết. Lúc nàng mở nắp ra, trong chậu chỉ toàn là mực.

Minh Châu vẽ thêm hai vòng phép rồi đổ nước từ chậu lên trang sách, tức thì những dòng chữ hiện ra. Chữ viết trong cuốn sách này cũng là chữ cổ Đà La Ni. Nàng căng mắt ra cũng chỉ đọc bập bẹ được vài chữ:

“Thiên Thư. Phần một: Từ không hoá vật, từ vật lại hoá hư không.”

Minh Châu cảm thấy máu nóng ran khắp người, vô cùng phấn khích. Những phép thuật trong đây đều huyền diệu cao thâm, khiến người xem chỉ biết tròn mắt há mồm, nàng chưa từng được nghe thấy ở bất cứ đâu.

Nàng đọc được một đoạn về cách làm cây bút thần. Ngoài những vật liệu quen thuộc như trầm hương, vỏ xà cừ, than thiết mộc,... còn cần nước Tưởng Thức và lông của giống ngựa chín hồng mao. Hai vật này đắt và hiếm đến nỗi mỗi thứ đều được treo giá bốn mươi tấm giấy Nhũ tương. Hai thứ là tận tám mươi tấm.

Nàng chống cằm, tính toán một hồi liền thở dài. Sợ rằng học hết năm nay nàng cũng không gom đủ được từng đấy.

Ngoài cửa có tiếng gõ, Minh Châu nhìn lên thì thấy Long Hà đang đứng ngoài cửa nhìn nàng.

“Chị thấy em nửa đêm rồi vẫn còn chong đèn nên vào xem. Em học cái gì mà thức khuya thế này?”

Long Hà tiến đến ngồi cạnh Minh Châu. Nàng vội gấp quyển sách cổ lại, lấy một quyển sách Y học ra giả vờ lật lật.

“Chị Long Hà, sao chị chưa ngủ?”

“Gọi chị Hà là được rồi. Em chịu khó học là tốt, nhưng cũng phải chú ý nghỉ ngơi, đừng để ảnh hưởng tới sức khoẻ.”

“Dạ em biết. Em đi ngủ liền đây. Chị cũng ngủ sớm nhé.”

Hai chị em hàn huyên thêm một lúc rồi Long Hà cũng trở về phòng mình.

Chỉ còn lại Minh Châu nằm trong phòng. Nàng trở mình trên chiếc giường tre, không hiểu sao lại cảm thấy bứt rứt.

Nàng nhớ mạ, nhớ Long Cung, nhớ Hải Tinh và Chương Ngư. Không biết bây giờ họ đang làm gì, có nhớ nàng không.

Ngay cả khi thiếp đi, màu xanh thăm thẳm của biển cả vẫn theo nàng vào tràn ngập tâm trí. Sự mềm mại của nước. Sự ấm áp của mạ và anh em thủy tộc. Rồi trong vô thức, hiện lên gương mặt của thầy Tâm Nguyên. Vẫn ánh mắt đau đáu, vừa buồn vừa lo lắng, quan tâm. Ánh mắt làm nàng nhớ tới đại dương, cho nàng cảm giác bình yên đến lạ kì.

Minh Châu choàng tỉnh giấc.

Nàng nhìn trời thấy vẫn còn tối, đoán chừng mới canh bốn. Không sao ngủ lại được nữa, nàng đứng dậy khoác áo rồi đi ra ngoài.

Thiên Thủy Tịnh Xá về đêm lạnh hơn bình thường. Đẹp một vẻ đẹp nên thơ ảo diệu. Thác nước tung bọt trắng xoá nổi bật trên nền trời đêm đen. Cả mặt hồ cũng lấp lánh như dát bạc.

Minh Châu đi lang thang ngắm trăng, ngắm cảnh, cảm nhận cái lạnh của sương đêm ngấm vào da thịt. Thứ này với thần tiên vốn chẳng đáng nhắc đến, nhưng không hiểu sao tại Thiên Thủy Tịnh Xá lại có cảm giác rất chân thật.

Nàng đi một hồi cũng tới chỗ cái bàn đá mà lần trước đã uống rượu ngâm thơ với anh em Quy tộc. Lại nhác thấy một bóng người đang ngồi đó uống rượu.

“Anh tư, sao anh lại lén giấu rượu uống một mình thế này?”

Kình Sang giật mình quay lại. Gương mặt chàng khi nhìn thấy Minh Châu lại càng hốt hoảng hơn.

“Minh Châu, sao em lại ở đây giờ này?”

“Vậy còn anh tư?” Minh Châu hỏi vặn lại. Trước giờ nàng chưa từng thấy Kình Sang có tâm sự.

Nghe kể lại, năm anh em nàng được nạ sinh ra từ bọc trứng. Nên năm người bằng tuổi nhau, đứa nào chui ra trước đứa đó làm anh. Anh cả Triêu Hực ít nói, lạnh lùng nhưng thực ra rất ấm áp. Anh hai Dệ Trí là người văn nhã, thông minh, nói năng lưu loát, rất thích giao lưu. Qưới Thạnh là người tinh nghịch, lém lỉnh, hay bầy trò nhất. Trong bốn người anh, thân thiết nhất với Minh Châu là anh ba với anh tư. Nhưng Kình Sang tính cách lại khá nhạt. Đôi khi nàng nghĩ, nếu không chơi với nàng và Qưới Thạnh, có khi nào Kình Sang sẽ thành một ông cụ non hay không.

“Anh là nam nhi, tự bản thân có áp lực. Uống lén chút rượu có sao đâu? Hơn nữa với tu vi của anh, loại rượu này nhạt nhẽo như nước gạo vậy.” Kình Sang đáp qua loa, né tránh ánh mắt nàng.

Minh Châu nhìn Kình Sang, cảm thấy rất kì lạ. Nàng giằng lấy bình rượu.

“Không được, anh tư không được uống nữa. Nếu anh không nói anh có chuyện gì, em sẽ mách mẹ.”

“Em...” Kình Sang nhìn nàng bực tức. Trên gương mặt điển trai, gò má đã phơn phớt hồng. Chàng đảo mắt, biểu cảm có vẻ rối rắm.

“Anh là trưởng tràng đấy, lẽ ra phải làm gương chứ. Thế mà anh lại vi phạm nội quy, em thấy thất vọng lắm.”

Kình Sang cứng họng. Cảm giác cả cổ họng đắng ngắt. Chàng ngoảnh mặt sang chỗ khác, cố nặn ra một lý do.

“Anh chỉ là nhớ nhà thôi.”

Minh Châu nghe vậy, trả lại bình rượu cho Kình Sang, mặt cũng xụ ra.

“Giống em. Em cũng nhớ Long Cung Thoải Phủ, nãy còn nằm mơ thấy.”

Rồi Minh Châu chống cằm, ngắm nhìn mặt trăng, ôn lại chuyện hồi bé nàng và các anh dưới Long Cung vui vẻ thế nào.

Kình Sang vừa nghe, vừa thấy dày vò trong lòng. Kể từ lúc chàng biết Minh Châu không phải em gái chàng, cảm xúc của chàng trở nên rất phức tạp. Lúc nhập học còn vì việc nọ việc kia mà tạm quên đi một chút. Nhưng cứ rảnh ra là lại nhớ đến.

Chàng nhớ đến những lúc hai anh em quá thân thiết, trái tim chẳng hiểu sao lại đập bình bịch. Ánh mắt, nụ cười, hương tóc, những biểu cảm của nàng đột nhiên đáng yêu và hấp dẫn đến lạ kì.

Kình Sang cảm thấy mình bị điên rồi!

Chàng lắc đầu, cố rũ bỏ những ý nghĩ không thích hợp đó. Nhưng gương mặt Minh Châu đã áp sát đến:

“Anh tư, anh làm sao thế?”

Chàng giật mình, cuống cuồng đứng dậy, cố làm ra vẻ bình thường nói:

“Trời cũng sáng rồi. Chúng ta mau chuẩn bị đi học đi, đừng ở đây nói nhảm nữa.”

Kình Sang hấp tấp chạy về phòng, bỏ lại Minh Châu ngơ ngác trông theo.

Dạo này mọi người xung quanh nàng bị làm sao ấy nhỉ?

Chú thích:

1. Hốt: đồ dùng ngày xưa của các quan lại, cầm khi vào chầu. Hình trụ hoặc hộp chữ nhật dài. Thường làm bằng ngà, gỗ. Vì Đằng Châu Thần Quân cũng là quan trên Thiên Phủ nên cũng có cái này.

2. Xà nách: còn gọi là dây chuyền nách, là trang sức xưa của nữ giới Việt Nam khi mặc với áo ngũ thân.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.