Thành Phố Tro Tàn

Chương 4: Chương 4: Chim cúc cu trong tổ




Nước cam, mật mía, trứng - toàn những thứ quá hạn nhiều tuần trời rồi - với thứ gì đó giống rau diếp thì phải.”

“Rau diếp hả?” Clary ngó qua vai Simon nhìn vào tủ lạnh, “Ồ. Phô mai mozzarella ấy mà.”

Simon nhún vai giơ chân đá đóng tủ lạnh nhà chú Luke lại. “Gọi pizza nhé?”

“Chú gọi rồi.” chú Luke bước vào bếp với chiếc điện thoại không dây trên tay. ‘‘Một suất pizza chay cỡ lớn, ba lon Coca. Và chú đã gọi tới bệnh viện,” chú nói thêm và ngắt điện thoại. “Tình hình của Jocelyn vẫn vậy.”

“Ồ,” Clary nói. Cô ngồi bên chiếc bàn gỗ trong bếp nhà chú Luke. Thường thì chú Luke ngăn nắp lắm, nhưng vào lúc này bàn chất đầy những lá thư chưa bóc và mấy chồng bát đĩa bẩn. Chiếc áo dạ màu lục của chú vắt trên ghế. Cô biết đáng ra mình nên giúp chú ấy dọn dẹp, nhưng gần đây cô cứ thấy mình không còn chút sức lực. Lúc sạch sẽ nhất thì bếp của chú Luke cũng nho nhỏ và tối tăm - chú không thích nấu nướng lắm, bằng chứng là giá đựng gia vị treo trên bếp ga cũ kỹ chẳng có lấy một lọ gia vị. Thay vào đấy chú Luke dùng giá để đựng toàn cà phê với trà.

Simon ngồi xuống cạnh Clary trong khi chú Luke thu dọn bát đĩa bẩn trên bàn và ném vào chậu rửa. “Cậu ổn không?” Simon thì thào hỏi.

“Mình vẫn bình thường.” Clary cố mỉm cười. “Mình không mong mẹ mình sẽ tỉnh dậy trong ngày hôm nay, Simon ạ. Mình có cảm giác bà đang - đang đợi một điều gì đó.”

“Cậu biết là điều gì không?”

“Không. Chỉ là một điều gì đó còn thiếu.” Cô ngước lên nhìn chú Luke, nhưng chú đang mải mê chà lấy chà để mớ bát đĩa trong bồn rửa. “Hoặc một ai đó.”

Simon nhìn cô vẻ giễu cợt, rồi nhún vai. “Có vẻ tình hình ở Học Viện khá căng thẳng đấy nhỉ?”

Clary rùng mình. “Mẹ của Alec và Isabelle đáng sợ lắm.”

“Tên bà ấy là gì ấy nhỉ?”

“May-ris,” Clary nói, học theo cách phát âm của chú Luke,

“Đó là một cái tên cổ từng được đặt cho Thợ Săn Bóng Tối.” Chú Luke lau khô tay.

“Và Jace quyết định ở lại đó và đối mặt với bà Điều Tra Viên đó hả? Anh ta không muốn bỏ đi sao?” Simon nói.

“Đó là việc cậu ta phải làm nếu còn muốn sống cuộc đời Thợ Săn Bóng Tối,” chú Luke đáp. “Và là Thợ Săn Bỏng Tối - là nột Nephilim - là tất cả với cậu ấy. Hồi ở Idris, chú biết những Thợ Săn Bóng tối khác giống như Jace. Nếu ta tước điều đó khỏi cậu ta...”

Tiếng chuông cửa quen thuộc vang lên. Luke ném cái khăn xuống bệ bếp. “Chú quay lại ngay.”

Ngay khi chú rời bếp, Simon nói, “Mình cứ thấy kỳ kỳ khi nghĩ chú Luke từng là Thợ Săn Bóng Tối. Còn kỳ hơn việc chú ấy là người sói nữa.”

“Thật sao? Vì sao vậy?”

Simon nhún vai. “Mình đã từng nghe kể về người sói rồi. Họ giống như là một thành phần có tiếng tăm. Chú ấy biến thành sói một tháng một lần, thế thôi. Nhưng còn về Thợ Săn Bóng Tối ấy à - họ giống như một loại sùng bái thánh giáo nào ấy.”

“Họ không phải sùng bái gì cả.”

“Phải mà. Săn bóng tối là toàn bộ cuộc sống của họ. Và họ coi thường tất cả những người khác. Họ gọi chúng ta là người phàm. Giống như thể họ không phải con người vậy. Họ không làm bạn với người thường, không đi tới cùng những nơi chúng ta thường tới, họ không cười khi nghe những câu chuyện cười của chúng ta, họ nghĩ họ đẳng cấp hơn chúng ta.” Simon gác chân lên và chọc chọc cái lỗ rách trên đầu gối quần bò. “Hôm nay mình gặp một người sói khác.”

“Đừng nói với mình là cậu cà kê nói chuyện với Freaky Pete trong quán Hunter’s Moon nhé.” Cô có cảm giác cực kỳ khó chịu quặn thắt trong dạ dày, nhưng cô không thể nói chính xác nguyên nhân gây ra cảm giác ấy. Có lẽ là sự căng thẳng lửng lơ lơ lửng.

“Không. Là một cô gái,” Simon nói. “Bằng tuổi chúng ta. Tên Maia.”

“Maia à?” Chú Luke trở lại bếp mang theo một hộp vuông pizza màu trắng. Chú ấy đặt nó xuống bàn và Clary vươn tay mở ra. Mùi bột nóng hôi hổi, nước sốt cà chua và pho mát làm cô nhớ ra mình đói cồn cào tới mức nào. Cô xé một miếng, không đợi chú Luke đưa đĩa cho. Chú ấy cười cười ngồi xuống, vừa cười vừa lắc đầu.

“Maia thuộc đàn của chú, đúng không ạ?” Simon hỏi, tiện tay lấy cho mình một miếng.

Chú Luke gật đầu. “Ừ. Một cô nhóc ngoan. Chú kêu con bé mấy lần tới đây trông tiệm sách trong khi chú tới bệnh viện. Con bé thích chú trả lương bằng sách.”

Simon ngửng đầu ngừng ăn pizza. “Chú thiếu tiền sao?”

Chú Luke nhún vai. “Với chú, tiền chẳng bao giờ quan trọng, còn cả đàn tự quản tiền của mình.”

Clary nói, “Mẹ luôn nói khi nào mẹ con cháu thiếu tiền thì mẹ sẽ bán bớt cổ phiếu của bố cháu đi. Nhưng vì cái người cháu tưởng là bố cháu hóa ra không phải bố cháu, và cháu không nghĩ Valentine có chơi cổ phiếu...”

“Mẹ cháu đã bán dần đồ nữ trang đi đấy,” chú Luke nói. “Valentine đã tặng cô ấy ít đồ gia bảo, những món trang sức đã chuyền qua nhiều thế hệ trong gia đình Morgensterns. Kể ra một thứ thôi cũng đáng giá cả một gia tài khi đem ra đấu giá rồi.” Chú ấy thở dài. “Nhưng giờ những thứ đó đã tiêu cả rồi - dù Valentine có thể thu lại chúng từ đống đổ nát của nhà cháu.”

“Ha, cháu hy vọng cô ấy cũng có được chút hả hê,” Simon nói. “Khi bán đồ của hắn ta đi.” Cậu lấy miếng pizza thứ ba. Thật kỳ diệu thay, Clary nhủ thầm, đám con trai có thể ăn nhiều đến từng ấy mà chẳng bao giờ bị tăng cân hay nôn ói ra cả.

“Chắc chú phải thấy lạ lẫm lắm,” cô nói với chú Luke. “Khi gặp lại Maryse Lightwood trong hoàn cảnh đó, sau từng ấy năm.”

“Cũng không hẳn là lạ lùng gì. Maryse chẳng khác xưa là mấy - thực ra chú thấy cô ta là chính mình hơn bao giờ hết ấy chứ, nếu có thể nói thế.”

Clary nghĩ nói thế là hợp lý. Cái cách Maryse Lightwood nhìn làm cô nhớ tới người con gái tóc đen gầy nhẳng trong bức hình bác Hodge đã đưa cô xem, cái người hếch cằm lên kiêu ngạo ấy, “Chú cho rằng bà ta nghĩ gì về chú vậy?” cô hỏi. “Chú có nghĩ họ thực sự mong chú chết không?”

Chú Luke mỉm cười. “Có lẽ họ mong thế không phải vì thù ghét gì, không đâu, nhưng chắc chắn chuyện sẽ dễ dàng hơn và bớt lộn xộn với họ hơn nếu như chú đã chết. Việc chú không những còn sống sờ sờ ra mà còn làm thủ lĩnh của đàn sói trong trung tâm thành phố là điều họ không mong rồi. Dầu gì thì việc của họ là gìn giữ hòa khí giữa những Cư dân Thế giới Ngầm cơ mà - vậy mà chú lại xuất hiện, với bao chuyện vướng mắc với họ cùng rất nhiều lý do để trả thù. Họ lo chú là một quân cờ khó kiểm soát.”

“Có đúng thế không ạ?” Simon hỏi. Họ đã ăn hết pizza, thế là cậu ta cứ chẳng thèm nhìn với thẳng tay nhón lấy diềm miếng pizza cô đang ăn. Simon biết cô ghét ăn vỏ bánh. “Cháu đang nói tới quân cờ khó kiểm soát ấy ạ.”

“Chú chẳng có gì là khó kiểm soát cả. Chú vốn là người trầm tĩnh. Trung niên rồi mà.”

“Trừ việc một tháng chú lại biến thành sói một lần và chạy lung tung cắn xé đủ thứ,” Clary nói.

“Thế là còn tốt chán,” chú Luke bảo. “Đàn ông vào tuổi chú được tiếng là thích mua xe đua đắt tiền và lên giường với siêu mẫu mà lị.”

“Chú mới ba tám tuổi,” Simon chỉ ra. “Trung niên cái gì.”

“Cám ơn cháu, Simon. Chú rất mừng.” Chú Luke mở hộp pizza thấy trống không liền gấp lại và thở dài. “Dù cháu ăn hết pizza rồi.”

“Cháu chỉ ăn có năm miếng,” Simon cự nự, dựa ghế ra sau trụ bấp bênh chỉ trên hai chân ghế.

“Ngốc tử, cậu nghĩ xem trong một hộp pizza có mấy miếng chứ?” Clary hỏi.

“Ít hơn năm miếng không phải một bữa ăn. Đó là đồ ăn vặt thôi.” Simon lo lắng nhìn chú Luke. “Thế có nghĩa là chú sẽ hóa sói và ăn cháu à?”

“Chắc không đâu.” Chú Luke đứng dậy và quẳng hộp pizza vào thùng rác “Cháu dai nhách và khó tiêu lắm.”

“Thi chú cứ coi như chú ăn kiêng đi,” Simon vui vẻ nhận định.

“Để chú sẽ bảo một người sói Do Thái nào tới thịt cháu nhé.” Chú Luke tựa lưng vào bệ bếp. “Nhưng để trả lời câu hỏi trước của cháu, Clary, chú thấy lạ khi gặp Maryse Lightwood, nhưng không phải vì cô ta. Mà là do mọi thứ xung quanh. Học Viện làm chú nhớ rất nhiều tới Sảnh Hiệp Ước ở Idris - chú có thể cảm nhận được sức mạnh của những hàng chữ rune của cuốn Sách Xám xung quanh chú, sau mười lăm năm đã cố quên chúng đi.”

“Vậy ư?” Clary hỏi. “Chú thực sự cố quên chúng ư?”

“Có những thứ cháu mãi mãi không quên đi được Những hàng chữ rune trong Sách không chỉ là hình ảnh minh họa. Chúng đã trở thành một phần của cháu. Một phần da thịt cháu. Là một Thợ Săn Bóng Tối thì cháu không bao giờ quên được. Đó là tài thiên bẩm được luân chuyển trong máu thịt, và cháu không thể thay đổi nó giống như cháu không thể đổi nhóm máu vậy.”

“Cháu đang băn khoăn,” Clary nói, “liệu có nên thêm vài Ấn Ký trên người không.”

Simon làm rơi miếng vỏ bánh đang gặm xuống. “Cậu đùa à?”

“Không, mình không đùa. Sao mình lại đi đùa cợt về một chuyện như vậy chứ? Và sao mình không được có Ấn Ký chứ? Mình là Thợ Săn Bóng Tối cơ mà. Thôi thì mình cũng nên gom lấy mọi sự bảo vệ mình có thể có được chứ.”

“Bảo vệ khỏi cái gì nào?” Simon hỏi, nhoài người lên phía trước khiến hai chân ghế trước nện rầm xuống sàn. “Mình cứ tưởng ba cái trò Thợ Săn Bóng Tối này chấm dứt rồi chứ. Mình tưởng cậu đang cố sống một cuộc sống bình thường cơ đấy.”

Giọng chú Luke nhẹ nhàng. “Chú không chắc có cái gọi là một cuộc sống bình thường đâu.”

Clary nhìn xuống cánh tay, nơi Jace đã vẽ một Ấn Ký duy nhất cô từng được nhận. Giờ cô vẫn nhìn thấy đường trắng mờ mờ nó để lại, nhưng đối với cô, nó giống một ký ức hơn là một vết sẹo. “Tất nhiên là mình muốn tránh xa những thứ kỳ quái. Nhưng nếu những thứ kỳ quái cứ đuổi theo mình thì sao? Nhỡ mình không có chọn lựa thì thế nào?”

“Hoặc là cậu không thực muốn tránh xa những thứ kỳ quái lắm,” Simon làu bàu. “Chừng nào còn có Jace dính vào.”

Chú Luke hắng giọng. “Hầu hết các Nephilim đều phải kinh qua nhiều cấp độ huấn luyện khác nhau trước khi nhận được Ấn Ký. Chú thì chú sẽ không khuyến khích cháu có thêm bất cứ Ấn Ký nào cho tới khi cháu được hướng dẫn đầy đủ. Và tất nhiên cháu muốn hay không là do cháu. Nhưng có một vài thứ cháu cần có. Vài thứ mà bất cứ một Thợ Săn Bóng Tối nào cũng cần có.”

“Thái độ kiêu căng khinh người, đáng ghét chứ gì?” Simon hỏi.

“Một thanh stele,” chú Luke đáp. “Mọi Thợ Săn Bóng Tối đều phải có một thanh stele.”

“Chú có không ạ?” Clary ngạc nhiên hỏi.

Không trả lời Clary, chú Luke lẳng lặng rời khỏi bếp. Một lát sau chú ấy trở lại, tay cầm một vật được gói trong miếng vải đen. Chú đặt vật đó xuống bàn, tháo tấm vải và để lộ một thứ óng ánh giống cây gậy phép, được làm từ pha lê đục Một thanh stele.

“Đẹp quá,” Clary thốt lên.

“Chú mừng vì cháu nghĩ vậy,” chú Luke nói, “vì chú muốn cháu có nó.”

“Có nó ư?” cô kinh ngạc nhìn chú. “Nhưng nó là của chú cơ mà?”

Chú lắc đầu. “Là của mẹ cháu đấy. Mẹ cháu không muốn cất nó trong nhà, phòng trường hợp cháu vô tình tìm thấy, vì thế đã nhờ chú giữ hộ.”

Clary cầm thanh stele lên. Chạm vào thì mát lạnh, nhưng cô biết nó sẽ rực nóng lên khi được sử dụng. Đây là một vật thể kỳ lạ, không đủ dài để dùng làm vũ khí, không đủ ngắn để dùng làm một cây bút vẽ. Cô nghĩ cái kích thước ngược ngạo này chỉ là một thứ dùng riết sẽ phải quen thôi.

“Cháu giữ nó được không ạ?”

“Tất nhiên rồi. Dĩ nhiên, cái này là kiểu cũ, lỗi mốt gần cả hai mươi năm rồi. Từ bấy đến nay hẳn người ta đã cải tiến kiểu dáng. Nhưng nó vẫn là một thứ vũ khí đáng tin cậy.”

Simon ngồi nhìn trong khi cô cầm thanh stele như cầm gậy chỉ huy của nhạc trưởng, nhẹ nhàng vạch những đường hoa văn vô hình trong khoảng trống giữa hai người. “Nó làm mình nhớ tới hồi ông mình cho mình cây gậy đánh golf cũ.”

Clary bật cười và hạ tay xuống, “Ừ, chỉ có điều cậu không bao giờ sử dụng những thứ ông cậu cho.”

“Và mình cũng hy vọng cậu không bao giờ sử dụng cái này,” Simon nói và vội liếc nhìn đi chỗ khác trước khi cô kịp trả lời.

Khói bốc lên từ những Ấn Ký theo hình xoắn ốc màu đen và anh ngửi thấy mùi da mình cháy khét lẹt. Bố đứng trước mặt với thanh stele cầm chắc trên tay, đầu của nó khí đỏ lên như đầu que cời để quá lâu trong lửa. “Nhắm mắt lại, Jonathan,” bố nói. “Nếu con nghĩ nó đau thì nó sẽ làm con đau thôi.” Nhưng Jace vẫn nắm chặt tay lại một cách vô thức, như thể da anh đang co lại, đang vặn vẹo để tránh xa thanh stele. Anh nghe có tiếng rắc khi một chiếc xương bàn tay bị gãy, rồi thêm một chiếc xương khác...

Jace mở bừng mắt chớp chớp trong bóng tối, giọng bố nhỏ dần rồi biến mất như khói tan trong cơn gió tỏa. Anh nếm được vị đau đớn ngai ngái bên đầu lưỡi. Anh đã cắn bập vào môi trong. Jace nhăn mặt ngồi dậy.

Tiẽng rắc rắc lại vang lên làm anh bất giác phải nhìn xuống bàn tay. Tay anh vẫn lành lặn. Rồi anh mới nhận ra âm thanh đó vang lên từ bên ngoài phòng. Có ai đang gõ cửa, dù ngập ngừng đôi chút.

Anh lăn xuống giường, rùng mình khi chân trần chạm xuống nền nhà lạnh cóng. Anh đã ngủ thiếp đi vẫn mặc nguyên quần áo và anh nhìn xuống áo sơ mi nhàu nhĩ mà phát gớm. Có khi trên người còn ám mùi sói nữa. Và anh thấy toàn thân đau nhức.

Tiếng gõ cửa lại vang lên. Jace rảo bước và đẩy mở cửa. Anh chớp mắt ngạc nhiên. “Alec?”

Alec, nhét tay vào túi quần bò, nhún vai không tự nhiên. “Xin lỗi vì đã muộn quá rồi. Mẹ bảo tớ đến gọi cậu. Mẹ muốn gặp cậu trong thư viện.”

“Mấy giờ rồi thế?”

“Gần đến nửa đêm.”

“Cậu còn thức làm quái gì vậy?”

‘‘Không ngủ được” Có vẻ Alec nói thật. Đôi mắt xanh biếc của cậu ta quây đầy quầng thâm.

Jace lùa tay vào mái tóc rối bù. “Được rồi. Đợi chút tớ đi thay cái áo.” Jace tới tủ, lật từng xếp quần áo gấp ngay ngắn gọn ghẽ tới khi tìm thấy chiếc áo phông dài tay màu xanh sẫm. Anh cẩn thận cởi áo mình đang mặc - máu khô làm cho áo dính chặt vào da thịt anh ở đôi chỗ.

Alec nhìn đi chỗ khác “Chuyện gì xảy ra với cậu thế?” Giọng Alec nghe ngu ngốc lạ lùng.

“Đánh nhau với một đàn người sói ấy mà.” Jace tròng chiếc áo phông xanh qua đầu. Mặc xong, anh cùng Alec đi xuống hành lang. “Cậu có gì ở cổ kìa,” anh nhận xét.

Tay Alec chụp ngay lên cổ. “Cái gì cơ?”

“Trông như vết cắn ấy,” Jace nói. “Mà cậu làm gì cả đêm vậy?”

“Chẳng làm gì cả.” Mặt đỏ dừ, tay vẫn ôm chặt lấy cổ, Alec đi xuống hành lang. Jace đi theo. “Tớ đi dạo trong công vien. Cho đầu óc thông suốt ấy mà.”

“Và gặp phải một ma cà rồng hả?”

“Gì cơ? Không! Tớ ngã!”

“Ngã dập cổ á?” Alec khụt khịt mũi và Jace quyết định tốt hơn hết nên dừng đề tài ở đây. “Được thôi, cậu nói sao tớ tin vậy. Mà cậu cần đầu óc thông suốt chuyện gì?”

“Chuyện cậu ấy. Và bố mẹ tớ,” Alec đáp. “Mẹ giải thích lý do vì sao bố mẹ cực kỳ giận sau khi cậu bỏ đi. Và giải thích về bác Hodge. À mà, rất cảm ơn vì cậu không thèm cho tớ biết chuyện nhé.”

“Xin lỗi.” Giờ tới lượt Jace đỏ mặt “Nhưng thật, tớ chẳng biết nói sao nữa.”

“Ừm, nhưng làm thế là không được” Cuối cùng Alec hạ tay khỏi cổ mà quay sang nhìn Jace vẻ buộc tội. “Có vẻ cậu đang giấu nhiều chuyện. Về Valentine.”

Jace khựng lại. “Cậu nghĩ tớ đang nói dối sao? Về chuyện không biết Valentine là bố đẻ của tớ à?”

“Không!” Alec có vẻ giật mình, hoặc là vì câu hỏi hay vì sự quyết liệt hàm chứa trong câu hỏi của Jace. “Và tớ chẳng quan tâm ai là bố cậu cả. Với tớ vấn đề đó chẳng là cái đinh gì. Cậu vẫn là cậu thôi.”

“Dù cho tớ là người thế nào.” Lời lẽ lạnh lùng tuôn ra, trước khi Jace kịp ngăn lại.

“Thì tớ nói thế thôi.” Alec dịu giọng. “Đôi khi cậu có hơi… khắc nghiệt. Tớ chỉ cần cậu uốn lưỡi trước khi nói. Ở đây chẳng có ai là kẻ thù của cậu cả, Jace à.”

“Cám ơn vì lời khuyên,” Jaee nói. “Tự tớ có thể đi nốt đến thư viện được rồi.”

“Jace...”

Nhưng Jace đã đi mất, để lại Alec buồn bã phía sau. Jace ghét khi ai đó đi lo chuyện của mình. Như thế khiến anh thấy có thể có vấn đề phải lo lắng thật.

Cửa thư viện đang mở hé. Jace không buồn gõ cửa mà bước thẳng vào. Nơi đây từng là một trong những nơi anh ưa thích của Học Viện - có gì đấy dễ chịu từ phong cách pha trộn cổ điển giữa nội thất bằng gỗ và bằng đồng, những cuốn sách gáy nhung bìa da sắp dọc theo tường như những người bạn đang chờ gặp lại anh. Giờ thì một luồng gió lạnh thổi tạt vào người anh ngay vừa khi cửa mở. Ngọn lửa vốn thường luôn tí tách trong lò sưởi cỡ lớn trong suốt mùa thu qua mùa đông giờ chỉ còn là tàn tro nguội lạnh. Những ngọn đèn đều tắt. Ánh sáng duy nhất phát ra từ cửa sổ thoát khí nhỏ hẹp và thông qua giếng trời cao cao phía trên.

Dù không muốn nhưng Jace lại nghĩ đến bác Hodge. Nếu bác ở đây, lửa sẽ được nhóm, đèn ga sẽ được mở, tỏa những quầng sáng vàng óng xuống nền nhà ván gỗ. Bác Hodge sẽ ngồi trong chiếc ghế bành bên lò sưởi, với con quạ Hugo đậu trên vai, và cuốn sách đặt bên cạnh...

Nhưng hiện có một người khác ngồi trong chiếc ghế bành cũ của bác Hodge. Cái người gầy gò, xám xịt từ trên xuống dưới đó đứng dậy, uyển chuyển vươn mình như con rắn hổ mang uốn éo theo tiếng sáo của người thổi rắn, rồi quay lại cười lạnh lùng.

Là một phụ nữ. Bà ta mặc áo choàng dài xám đậm lỗi mốt dài chạm bốt. Bên trong là một bộ vest cắt may vừa vặn màu đá ác-đoa cổ đứng, phần chóp cổ áo cứng ngắc chèn sát cổ bà ta. Mái tóc bà này vàng tai tái nhờ nhờ, lược giắt ngược sát ra sau, còn hai mắt bà ta xám sáng sắt đá. Jace có thể cảm nhận được đôi mắt ấy, như một thoảng chạm vào nước cóng lạnh, khí ánh nhìn bà ta quét qua chiếc quần bò vấy bùn bẩn thỉu, sang tới khuôn mặt bầm tím, rồi nhìn thẳng vào mắt anh.

Trong một giây có gì đấy nóng rực lóe lên trong ánh mắt bà ta, giống như lửa bùng lên bị mắc kẹt dưới lớp băng lạnh. Sau đó nó biến mất “Cậu là đứa trẻ đấy ấy à?”

Trước khi Jace kịp trả lời, một giọng nói khác vang lên: Đó là mẹ Maryse - người vừa bước vào thư viện qua cánh cửa sau lưng anh. Anh tự hỏi vì sao mình không nghe thấy tiếng chân bà và nhận ra bà đã thay đôi giày cao gót bằng đôi dép mềm đi trong nhà. Bà mặc áo ngủ dài bằng lụa nổi vân cùng vẻ mặt môi mím chặt. “Phải đấy, Điều Tra Viên,” bà nói. “Đây là Jonathan Morgenstern.”

Điều Tra Viên tiến tới chỗ Jace nhanh như một cuộn khói xắm. Bà ta dừng lại trước mặt anh rồi chìa một bàn tay ra - ngón dài ngoằng trắng bệch, làm anh nghĩ đến một con nhện bạch tạng. “Nhìn ta này, cậu bé,” bà ta nói, bỗng thoắt cái những ngón tay dài ngoẵng kia đã đặt dưới cằm anh, bắt anh ngẩng đầu lên. Bà này khỏe không ngờ. “Cậu phải gọi ta là Điều Tra Viên. Cậu không được gọi ta bằng bất cứ tên nào khác.” Vùng da quanh mắt bà ta chằng chịt nếp nhăn mảnh trông như những vết rạn trong tranh sơn dầu. Hai đường hằn chạy dọc hai bên khóe miệng xuống cằm. “Cậu hiểu chưa?”

Hầu như cả đời, Jace luôn nghĩ Điều Tra Viên là một nhân vật hư hư thực thực như huyền thoại. Nhân dạng, thậm chí nhiều nhiệm vụ của bà ta, đều được Hội đồng Clave giữ bí mật. Anh cứ tưởng Điều Tra Viên giống với các Tu Huynh Câm, nắm giữ những bí mật và tiềm tàng nguồn sức mạnh khổng lồ. Anh đã không hề nghĩ tới một tới một con người quá thẳng tính - hoặc quá thù địch như thế này. Đôi mắt bà ta như chém vào người anh, cắt phăng đi lớp áo giáp tự tin và ngạo nghễ của anh, lột trần anh đến tận xương tủy.

“Tên tôi là Jace,” anh nói. “ Chứ không phải cậu bé nào cả. Jace Wayland.”

“Cậu không được quyền mang họ Wayland,” bà ta nói. “Cậu là Jonathan Morgenstern. Dùng tên Wayland đồng nghĩa với việc là cậu là một kẻ dối trá. Giống bố cậu.”

“Thực ra thì,” Jace nói, “tôi muốn nghĩ mình là một kẻ dối trá theo cách độc nhất vô nhị của riêng tôi.”

“Ta hiểu rồi.” Một nụ cười nhẹ nhếch lên trên đôi môi bợt màu. Cũng không phải một nụ cười thiện chí gì. “Cậu bất chấp quyền thế, cũng như bố cậu. Giống như thiên thần mà bố con cậu được đặt tên theo.” Những ngón tay bà ta đột ngột nắm chặt lấy cằm anh, móng tay bấm sâu đến đau đớn. “Lucifer được phong thưởng vì đã nổi loạn bằng việc Đức Chúa trời đày hắn xuống địa ngục mịt mùng thăm thẳm.” Hơi thở bà ta phả ra chua như giấm. “Nếu cậu bất tuân thẩm quyền của ta, ta có thể hứa rằng cậu sẽ phải ghen tỵ với số phận của Lucifer đấy.”

Bà ta thả Jace ra và lùi lại. Anh có thể cảm nhận được máu chầm chậm rỉ ra từ nơi móng tay bà ta đã bấm vào. Hai tay anh run lên vì tức giận nhưng anh quyết không đưa tay lên quệt máu.

“Imogen...” Maryse dợm nói, rồi sau đó tự động sửa lại. “Thưa Điều Tra Viên Herondale. Jace đồng ý được xét xử bằng Thanh Kiếm. Bà có thể biết thằng bé nói thật hay không.”

“Về bố nó ư? Phải. Ta biết ta có thể làm thế.” Cổ áo cứng nhắc của Điều Tra Viên Herondale ôm thít vào cổ khi bà ta quay người nhìn Maryse. “Cô biết đấy, Maryse, Hội đồng Clave không hài lòng với cô. Cô và Robert là những kẻ trông coi Học Viện. May cho cô là hồ sơ của cô suốt nhiều năm qua tương đối sạch sẽ. Chỉ có vài vụ rắc rối với lũ quỷ trong thời gian gần đây, và mọi thứ khá yên ổn trong suốt vài ngày qua. Không có báo cáo gì, thậm chí từ Idris, vì thế Hội đồng Clave vẫn thấy yên tâm. Thi thoảng chúng tôi còn tự hỏi liệu cô có thực sự không còn là đồng minh của Valentine không. Hoá ra là, hắn đã đặt một cái bẫy cho cô và cô rơi ngay vào đó. Người ta cứ tưởng cô phải biết rõ hơn thế chứ.”

“Không có bẫy biếc gì hết,” Jace cắt lời. “Bố tôi biết nhà Lightwood sẽ nuôi dạy tôi nếu họ nghĩ tôi là con trai Michael Wayland. Thế thôi.”

Điều Tra Viên nhìn cậu chằm chằm như thể cậu là một con gián biết nói. “Cậu biết về con chim cúc cu chứ gì, Jonathan Morgenstern?”

Jace phân vân có lẽ việc làm Điều Tra Viên - một công việc chắc chắn không lấy gì làm dễ chịu - đã khiến đầu óc bà Imogen Herondale đây rối loạn chút nào không. “Con gì cơ?”

“Chim cúc cu,” bà ta đáp. “Cậu biết đó, chim cúc cu là loài sống ký sinh. Chúng đẻ trứng vào tổ chim khác. Khi trứng nở, chim cúc cu non đá những con chim non khác ra khỏi tổ. Những cặp chim bố mẹ đáng thương kia sẽ cật lực đi tìm thức ăn nuôi một con chim cúc cu khổng lồ đã giết chết con cái chúng và chiếm chỗ đáng ra thuộc về những đứa con của chúng.”

“Khổng lồ ư?” Jace nói. “Bà vừa bảo tôi béo à?”

“Đó là phép so sánh thôi.”

“Tôi không béo.”

“Và tôi,” Maryse lên tiêng, “không cần sự thương hại của bà, Imogen. Tôi không tin Hội đồng Clave sẽ trừng phạt tôi hay chồng tôi vì đã quyết định nuôi nấng con trai một người bạn đã qua đời.” Bà đứng hiên ngang. “Đâu phải là chúng tôi không báo cáo tường tận tất cả những gì chúng tôi làm cho Hội đâu.”

“Với lại tôi cũng không bao giờ làm hại người nhà Lightwood nào cả,” Jace nói. “Tôi làm việc chăm chỉ, và luyện tập siêng năng - bà thích nói gì về bố tôi thì nói, nhưng ông ấy đã nhào nặn tôi thành Thợ Săn Bóng Tối. Tôi tự mình kiếm được vị trí của mình ở đây.”

“Đừng biện hộ cho bố cậu trước mặt ta,” Điều Tra Viên nói. “Ta hiểu hắn. Hắn đã là - vẫn là - một kẻ đê mạt nhất trong những kẻ đê mạt.”

“Đê mạt ư? Ai nói đê mạt ấy nhỉ? Mà từ đó có nghĩa gì chứ?”

Hàng lông mi không màu phủ rợp xuống má Điều Tra Viên khi bà ta nheo mắt, cái nhìn lộ vẻ tính toán. “Cậu kiêu ngạo,” cuối cùng bà ta cất tiếng. “Và bất chấp không kém. Bố cậu dạy cậu cư xử như vậy sao?”

“Cứ không phải như vậy với bố tôi là được,” Jace đáp cụt ngủn.

“Vậy thì cậu đang bắt chước hắn. Valentine là một trong những kẻ kiêu căng láo xược nhất mà ta từng gặp. Ta đoán hắn đã nuôi dạy cậu thành giống y như hắn.”

“Đúng,” Jace không thể ngậm miệng nổi, “tôi được huấn luyện để trở thành một kẻ có trí tuệ bậc thầy xấu xa từ khi còn nhỏ. Giật cánh ruồi, đầu độc nguồn nước của trái đất - mấy trò đó tôi đã thành thạo từ hồi mẫu giáo. Tôi đoán tất cả chúng ta đều máy mắn vì bố tôi đã giả chết trước khi kịp dạy tôi đến phần cướp hiếp, nếu không thì chẳng có ai sống an lành được hết.”

Maryse phát ra âm thanh giống như tiếng lên sợ hãi. “Jace ôi...”

Nhưng Điều Tra Viên đã cắt lời. “Và cũng như bố cậu, cậu không biết kiềm chế tính nóng,” bà ta nói. “Nhà Lightwood đã nuông chiều cậu để cho những phẩm chất tệ hại nhất của cậu tự do phát triển. Cậu có thể trông như một thiên thần đấy, Jonanthan Morgenstern ạ, nhưng ta biết chính xác cậu là gì.”

“Nó chỉ là một đứa bé, Maryse nói. Có phải mẹ đang biện hộ cho anh không? Jace liếc vội sang nhưng bà nhìn đi chỗ khác.

“Valentine cũng từng là một đứa bé. Giờ trước khi chúng ta đào sâu vào cái đầu tóc vàng kia tìm sự thực, ta nghĩ cậu nên bình tĩnh lại. Ta biết cậu có thể làm điều đó tốt nhất ở nơi đâu.”

Jace chớp chớp mắt. “Bà bảo tôi về phòng sao?”

“Ta sẽ đưa cậu về nhà tù tại Thành phố Câm Lặng. Chỉ sau một đêm thôi là cậu sẽ ngoan ngoãn hợp tác với ta ngay.”

Maryse thở dốc. “Imogen - bà không thể làm thế!”

“Tất nhiên là có thể chứ.” Mắt bà ta sáng lên như lưỡi dao lam. “Cậu có muốn nói gì với ta không, Jonathan?”

Jace chỉ nhìn. Thành phố Câm Lặng có bao nhiêu là tầng, mà cậu chỉ mới đặt chân tới hai tầng trên cùng thôi, dùng để lưu trữ hồ sơ và là phòng hội đồng của hội Tu Huynh Câm. Xà lim ở tầng thấp nhất trong thành phố, bên dưới tầng nghĩa trang nơi hàng ngàn Thợ Săn Bóng Tối đã hy sinh được yên nghỉ trong câm lặng. Những xà lim được dành cho bọn tội phạm dã man nhất: những ma cà rồng tráo trở, những pháp sư đã phá vỡ luật Hiệp Ước, những Thợ Săn Bóng Tối sát hại đồng nghiệp. Jace không thuộc loại nào trong số ấy cả. Vậy thì vì sao bà ta lại muốn đưa cậu vào đó?

“Rất thông minh, Jonathan. Ta thấy cậu đã sẵn sàng học bài học tuyệt nhất mà Thành Phố Câm Lặng sẽ dạy cậu.” Nụ cười Điều Tra Viên nhìn như một cái đầu lâu ngoác miệng nham nhở. “Cách ngậm chặt miệng lại.”

Clary đang dở tay giúp chú Luke lau dọn bữa tối thì chuông cửa vang lên. Cô đứng thẳng người, nhìn sang chú Luke. “Chú mời ai tới sao?”

Chú nhíu mày, lau khô tay. “Không. Đợi đó nhé.” Cô thấy chú vươn tay lấy thứ gì đó trên giá bếp. Một vật phát sáng.

“Cậu có thấy con dao đó không?” Simon huýt sáo, đứng thẳng dậy khỏi ghế. “Chú ấy lo có rắc rối sao?”

“Mình nghĩ chú ấy luôn lo có rắc rối xảy ra,” Clary nói, “nhất là trong thời gian gần đây.” Cô nheo mắt nhìn qua khe cửa bếp, thấy chú Luke đứng trước ngưỡng cửa chính đang rộng mở. Cô có thể nghe thấy giọng chú, nhưng không nghe ra chú nói gì. Nhưng nghe có vẻ chú không hề tức giận

Bàn tay Simon đặt tay lên vai cô, kéo cô lùi lại. “Tránh xa cánh cửa ra. Cậu sao thế, điên à? Nhỡ có quỷ ngoài kia thì sao?”

“Vậy có lẽ chú Luke sẽ cần chúng ta giúp,” cô nhìn bàn tay cậu đặt trên vai cô mà cười toe toét “Giờ cậu cũng muốn bảo vệ mình à? Dễ thương ghê.”

“Clary!” chú Luke gọi cô. “Tới đây. Chú muốn cháu gặp một người.”

Clary vỗ vỗ rồi gạt tay Simon sang bên. “Mình trở lại ngay.”

Chú Luke đang khoanh tay tựa người vào khung cửa. Con dao trên tay chú kỳ diệu thay đã biến đâu mất. Một cô gái đứng trước bậc tam cấp, với mái tóc nâu xoăn xoăn được tết lại thành nhiều bím nhỏ và mặc chiếc áo khoác nhung kẻ màu đồng. “Đây là Maia,” chú Luke nói. “Người chú đã nói với cháu đó.”

Cô gái nhìn Clary. Dưới ánh đèn sáng choang hắt xuống từ hiên nhà, màu mắt cô nàng biến thành màu xanh hổ phách kỳ dị. “Chắc cậu là Clary.”

Clary gật đầu xác nhận.

“Vậy cái anh chàng... cái anh chàng tóc vàng đã gây lộn ở quán Hunter’s Moon ấy... là anh trai cậu à?”

“Jace,” Clary đáp cụt lủn, không thích kiểu tò mò tọc mạch của cô gái này.

“Maia hả?” Simon, bước ra từ đằng sau Clary, tay nhét trong túi áo bò.

“Ừ. Đằng đó là Simon nhỉ? Tớ không giỏi nhớ tên, nhưng tớ nhớ cậu.” Cô gái mỉm cười với Simon.

“Hay thật,” Clary nói. “Giờ cả đám là bạn cơ đấy.”

Chú Luke ho húng hắng và đứng thẳng người dậy. “Chú muốn các cháu biết nhau vì Maia sẽ làm việc tại hiệu sách trong vài tuần tới,” chú nói. “Nếu cháu thấy cô nhóc này đi ra đi vào, đừng lo lắng làm gì. Cô này có chìa khóa.”

“Và tớ sẽ để ý mấy chuyện kỳ lạ giùm cho,” Maia hứa. “Quỷ, ma cà rồng, bất cứ thứ gì.”

“Cám ơn,” Clary nói. “Giờ tớ thấy an toàn quá cơ.”

Maia chớp mắt. “Cậu đang mỉa tớ đấy à?”

“Dạo này bọn tớ hơi căng thẳng,” Simon nói. “Tớ là người duy nhất vui vì biết có người ở đây giúp để ý bạn gái mình khi không ai ở nhà.”

Chú Luke nhướn mày nhưng không nói gì. Clary nói. “Simon nói đúng. Tớ xin lỗi đã gắt gỏng với cậu.”

“Không sao mà.” Maia có vẻ thông cảm. “Tớ đã nghe qua chuyện của mẹ cậu. Tớ rất tiếc.”

“Tớ cũng vậy,” Clary nói, quay người trở vào phòng bếp. Cô ngồi xuống bàn và úp mặt vào tay. Một lát sau chú Luke bước vào.

“Xin lỗi,” chú nói. “Chú đoán giờ cháu không muốn gặp ai hết.”

Clary nhìn chú qua khe hở những ngón tay. “Simon đâu ạ?”

“Đang nói chuyện với Maia,” chú Luke đáp, và quả thực Clary nghe thấy giọng họ, khe khẽ thì thầm, vẳng tới từ bên kia nhà. “Chú chỉ nghĩ sẽ tốt nếu cháu có thêm một người bạn vào thời điểm này.”

“Cháu có Simon rồi.”

Chú Luke đẩy kính trên sống mũi. “Chú vừa nghe nó gọi cháu là bạn gái thì phải?”

Cô suýt bật cười vì sự bối rối biểu hiện trên nét mặt chú. “Cháu đoán thế.”

“Đó là tin mới, hay là một tin chú đã biết nhưng quên mất nhỉ?”

“Cháu cũng nghe thấy lần đầu mà.” Cô bỏ tay khỏi mặt và nhìn vào đấy chăm chú. Cô nghĩ tới chữ rune, hình đôi mắt mở, được vẽ trên mu bàn tay bất cứ Thợ Săn Bóng Tối nào. “Bạn gái một ai đó,” cô nói. “Em gái một ai đó, con gái một ai đó. Toàn những vai trước đây cháu chưa từng nghe đến, và giờ cháu vẫn không thực sự biết mình là gì nữa.”

“Chẳng phải đấy luôn là câu hỏi sao,” chú Luke nói, Clary nghe tiếng cửa đóng lại và tiếng bước chân Simon bước vào bếp. Mùi không khí ban đêm lành lạnh ùa vào theo chân cậu.

“Cháu ở lại đây tối nay có phiền không ạ?” cậu hỏi. “Giờ về nhà thì hơi quá muộn rồi.”

“Cháu biết nơi này luôn chào đón cháu.” Chú Luke liếc nhìn đồng hồ. “Chú sẽ đi ngủ. Sáng mai năm giờ chú phải dậy để sáu giờ là có mặt ở bệnh viện.”

“Sao lại là sáu giờ?” Simon hỏi, sau khi chú Luke rời bếp.

“Bệnh viện cho phép người nhà vào chăm sóc bệnh nhân từ giờ đó,” Clary đáp. “Cậu không cần ngủ trên đi văng đâu. Nếu như cậu không muốn.”

“Mình không ngại ở lại chơi với cậu nốt ngày mai đâu,” cậu nói, bực bội lắc lắc xua những sợi tóc đen lòa xòa xuống mắt. “Không một chút nào.”

“Mình biết. Ý mình là cậu không phải ngủ trên đi văng nếu như cậu không muốn.”

“Vậy thì ở đâu...” Giọng Simon lạc mất, còn đôi mắt dưới cặp kính mở lớn. “À.”

“Có một giường đôi,” cô nói. “Trong phòng ngủ cho khách.”

Simon rút tay khỏi túi. Má cậu ấy đỏ ửng. Nếu là Jace, anh ấy sẽ tỏ ra bình thường; nhưng Simon không thèm giấu diếm. “Cậu chắc không?”

“Chắc mà.”

Cậu đi qua bếp, tới bên cô rồi cúi xuống hôn nhẹ nhàng và vụng về lên môi cô. Clary mỉm cười và đứng dậy. “Quá đủ với những gian bếp rồi,” cô nói. “Không bếp nữa đâu nhé.” Nói rồi, nắm chặt lấy cổ tay Simon, cô kéo cậu “bạn trai” ra khỏi bếp, về phía phòng ngủ của khách mà cô sử dụng.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.