Việt Hùng Diễn Nghĩa

Chương 41: Chương 41: Đồng bào 6




Cảm ơn Koser Arima vì đề cử mới nhá!

4400 chữ, còn lại là ngoài rìa, bao gồm cái quote, tác mà muốn nước chữ bằng quote thì tác quăng cả bài hát vào luôn.

“…

Dù đi năm châu cho dù về nơi đâu

Triệu trái tim này, cùng hát chung câu Việt Nam

…”

- Lời bài hát [Việt Nam Trong Tôi Là] của YENLE (Yến Lê, Lê Hải Yến)

(P/s: Muốn gì nửa? Mở nghe luôn cho máu!)

“Rầm!!!!!!” “Rầm!!!!!!”

“Đồng…….

Trụ…….

Chiết…….,

Giao…….

Chỉ…….

Diệt…….”

“Rầm!!!!!!” “Rầm!!!!!!”

“Đó là một ngày mưa giông tầm tả, sét đánh đùng đoàng như muốn phá núi lật sông …”

Trong những âm thanh phụ trợ phát ra từ phía sau sân khấu, lão kể chuyện già mở miệng.

Mặc dù phong cách hý nghệ tràn đầy,

Nhưng giọng kể điêu luyện của ông già râu bạc trong trang phục mang màu sắc tiên bụt xuống trần

Cùng sự nhập vai xuất thần hóa hồn của các diễn viên khiến cho khung cảnh cũng nhiễm màu huyền bí hoài cổ.

Tâm trạng người xem như bị kéo vào lỗ sâu thời không, xuyên về quá khứ, để chứng kiến cha ông ngày trước…

“Rầm!!!!!”

“Vu Vương! Có lẽ chúng ta nên đi tìm chỗ trú ẩn.

Sắp mưa to đến nơi”

- Một trưởng lão đầu hoa râm 6 trắng, 4 đen mở miệng khuyên nhủ.

Vị Tây Âu Vu Vương học theo cậu cóc, thống soái của muôn loài vạn lịnh ngày trước,

Hùng dũng nhìn thẳng vào trời xanh như muốn chất vấn:

“Hỡi ông trời!!!

Bao giờ mới đem trả tộc ta báu vật của tổ tiên?!

Tại sao ngăn cản chúng ta con cháu truy tìm dấu vết ông cha?!”

“Rầm!!!” “Rầm!!!” “Rầm!!!”

Trời bổng nổi sét liên hồi, đánh vào một sơn cốc ngay gần đó, thậm chí trong tầm mắt có thể thấy được một tia sét xẹt ngang qua chém đổ một cây cổ thụ 3-4 người ôm.

Mọi người cho là thái độ của Vu Vương chọc giận trời xanh thế là vội ngăn cản:

“Vu Vương!”

Nhưng Tây Âu Vu Vương lại không khuất phục, ngài cảm thấy âm thanh của sét có điều khác lạ.

Ngài sinh ra với một đôi tai trời, lại có nhiều năm rèn đúc kim loại.

Ngài nghe ra được có một tiếng sét đánh trúng kim loại.

“Chẵng lẽ ông trời cũng nghe thấu lòng ta?!

Có phải đó là di tích truyền thừa của tổ tiên để lại?!”

Tây Âu Vu Vương họ Cao, là con cháu 9 đời của Thạch Thần Cao Lỗ, năm đó Triệu Đà diệt Âu Lạc, phỏng theo quy chế của Tần, bắt ép dân ta thêm họ để dễ bề quản lý.

Pháp luật của Tần hà khắc bất nhân hiếm có trên đời, ai mà phản kháng sẽ bị tận diệt cả nhà.

Con cháu Thạch Thần vì muốn truyền thừa tiếp ý chí và học thức của cha ông nên cam nguyện lấy chữ Cao ghi vào sách thành họ.

Truyền rằng trước lúc lâm chung, Thạch Thần có trăn trối rằng ngài đã đem hết truyền thừa báu vật của mình giao cho Tượng Thánh Môn Sanh cất giữ.

Nơi cất giữ kho báu ấy là một nơi sét thường hay đánh vào mùa bão, trong tiếng sét có âm vang của kim loại, tựa như ông trời đang rèn đúc thần khí vậy.

Tây Âu Vu Vương biết điều này.

Ngài ra lệnh cho những người yếu ớt sợ sệt lui bước để bảo toàn tính mạng.

Còn bản thân ngài thì dẫn theo những dũng sĩ quả cảm gan góc tiếp tục theo đuổi chỉ dẫn của ông trời, hoặc có lẽ là của linh sống núi, hồn tổ tiên.

Gió mặc gió,

Mưa mặc mưa,

Sấm sét mặc sấm sét,

Cheo leo mặc cheo leo,

Bùn đất mặc bùn đất,

Nguy hiểm chẵng nề gì.

Những vị anh hùng khi ấy đã kiên quyết nối tiếp bước chân của các đời anh linh thuở cổ xưa trước nữa.

Ở nơi cửa sơn cốc nhìn lên vách đá cao hun hút,

Có một mỏm đá hiểm trở nhô ra,

Đứng thẳng trên mỏm đá ấy là một trụ đồng,

Thô to hơn chân voi vương,

Và cao hơn cả cổ thụ ngàn năm,

Trên mặt trụ ấy dường như có viết chữ gì.

Tây Âu Vu Vương lau dụi hai mắt cố gắng nheo nhìn nhưng vì quá xa nên khó đọc vô cùng.

Rồi như có trời giúp, một ánh chớp lóe lên xua tan màn mưa tối làm sáng bật lên 3 chữ Hán trên trụ:

“Đồng Trụ Chiết”

“Rầm!!!”

Tây Âu Vu Vương vừa dứt lời thì một tiếng sấm vang rền cả sơn cốc như trời long đất lở, muốn đem hết thảy chôn vùi.

Âm thanh kim loại bị sét đánh vang hơn tiếng chuông tiếng trống trăm ngàn lần.

Sét đánh thẳng vào chân trụ đồng nọ làm toác cả một phần mỏm đá.

Trụ đồng bật gốc lăn xuống đáy cốc, mất hút.

Mưa gió bổng dưng có chiều hướng dịu hẵn, tiếng sấm tuy còn vang nhưng đã rời xa nơi này.

Tây Âu Vu Vương cùng các dũng sĩ thấy vậy thì đều cho rằng những tia sét trong cốc vừa rồi đúng là chỉ dẫn của tổ tiên.

Thế là họ vội vàng tiến vào cốc truy tìm

Họ tìm được không chỉ 1, mà là 2 cái xác trụ nằm ngập trong vũng nước bùn.

Họ có thể xác nhận là có 2 cây trụ bởi vì đều là thợ rèn kim loại lâu năm, thừa biết đặc tính dẽo dai của đồng.

Nếu là gang sắt thì có thể vì quá cứng mà téc đôi khi va đập trên đường lăn xuống.

Nhưng đồng thì có tính dẽo và sẽ bị bẻ cong thay vì đứt gãy.

Vậy là đã rõ, hóa ra tiếng sét đánh kim loại mà Tây Âu Vu Vương nghe được khi ở ngoài cốc chính là vì sét đánh trúng cây trụ đầu tiên.

Bọn họ chia nhau ra tìm kiếm khắp nơi nhưng không phát hiện được gì nhiều, đến khi tập hợp lại bên xác hai cây trụ đồng thì mưa đã tạnh hẵn, chỉ còn mây gió vẫn ráng tác oai mù trời.

Tây Âu Vu Vương đột nhiên nghĩ đến:

“Nếu cây trụ ta thấy đầu tiên có chữ và dẫn chúng ta đến nơi này

Thì cây trụ bị sét đánh đổ trước đó hẵn cũng phải có chữ!

Và có lẽ nó sẽ dẫn chúng ta đến truyền thừa của tổ tiên!”

Thế là họ hì hục tìm cách kéo hai trụ đồng lên vì phần có chữ của cả hai cây trụ đều ngập mặt trong bùn, không biết cây nào đọc rồi, cây nào chưa đọc cả.

Cây trụ đầu tiên kéo lên lại là cây ‘Đồng Trụ Chiết’, có chút xui xẻo!

Dù có anh dũng nhiệt huyết đến đâu đi nữa thì họ cũng là thân người phàm máu thịt.

Vốn đã giang mưa lội gió cả ngày trời, lại bỏ công sức kéo lên cây trụ nặng cả vạn cân mà còn gặp xui như vậy thì ai nấy cũng lã cả người.

Tây Âu Vu Vương đành cho người quay lại bộ tộc gọi người còn bản thân thì quyết cắm trại tại đây.

Đêm đó ngài bị sốt cao,

Ngài nằm mơ thấy hai vị Trưng Nữ Vương,

Nằm mơ thấy biết bao anh hùng đồng bào từng ngã xuống trong cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ tàn bạo của kẻ thù,

Ngài cũng nhìn thấy một vị tướng mặc quân phục Hán nhìn không rõ mặt nằm trên giường bệnh, trút hơi thở cuối cùng trong nước mắt, lẫm nhẫm trong mơ hồ mấy chữ ‘da ngựa bọc thây’. (P/s 1)

Khi tỉnh lại thì đã là giữa trưa ngày thứ 3, trụ đồng còn lại cũng sớm được kéo lên.

Mặc dù đang còn rất yếu nhưng Tây Âu Vu Vương không màng tô cháo ấm và bát nước thuốc trước mặt, mà vội hỏi:

“Cây trụ đồng còn lại.

Nó có viết chữ sao? Là chữ gì?”

Nhưng vị thầy thuốc đâu biết Tây Âu Vu Vương đang hỏi chuyện gì, chỉ được các trưởng lão dặn là chăm sóc Vu Vương cho tốt thôi.

Khuyên mãi không được, thầy thuốc đành đi tìm mấy vị trưởng lão.

Mấy vị trưởng lão đứng canh hết ngoài cửa chỉ có duy nhất một người lớn tuổi nhất đi vào ngồi bên cạnh Vu Vương nói khẽ:

“Trụ đồng còn lại cũng viết 3 chữ Hán”

“Chữ gì?”

Dù mệt lã nhưng Tây Âu Vu Vương vẫn ráng gượng dậy hỏi:

“Giao

Chỉ

Diệt!”

Ánh mắt của vị trưởng lão nọ toát lên vẻ phẫn hận căm tức.

“Cái gì?!!!”

Tây Âu Vu Vương hét lên một tiếng rồi ngất liệm đi.

Mấy vị trưởng lão vội kêu gọi thầy thuốc tới.

Thầy thuốc kiểm tra xong bảo:

“Vu Vương mệt nhọc quá độ lại bị nóng giận.

Thân thể và tinh thần đều vô cùng suy nhược.

Cần phải tịnh dưỡng thật nhiều”

Các vị trưởng lão đều cho rằng nguyên cớ là do 2 trụ đồng nọ:

“Hẵn là chúng chất chứa oán hồn của đồng bào ta.

Nhân dân ta đang sống yên lành, kẻ cuốc người cày, vui ca vui hát,

Kính hiếu mẹ cha trời đất, không làm việc ác gì.

Mà đột nhiên bị nô dịch đô hộ bắt giết thì làm sao không căm tức?!”

“Đúng vậy!

Những đồng này đã từng là cái nồi cái vạc, lưỡi cuốc lưỡi cày, chiếc chiêng chiếc trống.

Là mồ hôi là máu thịt của nhân dân ta.

Nay lại bị bám bổ thành đồ trấn yểm tà quái thì sao không oán”

Thế là họ bàn nhau đem nấu luyện lại hai thanh trụ, rèn đúc thành các vật dụng đồng củ.

Hai thanh trụ quá lớn, đúc hết đồ vật này này đến đồ vật khác,

Đủ cả các đồ dùng sinh hoạt bình thường, làm nông đánh bắt, cúng kiếng lễ nhạc của dân ta,

Làm luôn cả những thứ hiếm thứ lạ ít người biết đến gần như đã thất truyền và chỉ còn trong trí nhớ của các vị trưởng lão,

Thế mà vẫn còn dư một phần cốt lõi bên trong hai thanh trụ không biết pha tạp vào kim loại gì mà nấu không chảy.

Lúc này Tây Âu Vu Vương đã tỉnh lại, tuy chưa khỏe mạnh hoàn toàn như lúc trước nhưng có thể bước đi nói chuyện bình thường.

Không màng sự khuyên can của các vị trưởng lão, Vu Vương ra lệnh khai lò để tự mình nấu luyện lõi trụ.

Nhìn thấy ngọn lửa đỏ giận dữ điên cuồng thiêu đốt muốn cắn ngoạm xuống dù chỉ một mảnh nhỏ của phần cốt lõi mà vẫn không thể thành công.

Vu Vương không cam lòng, ngài vắt hết óc suy nghĩ rồi bổng nhớ lại …

Khi ngài còn nhỏ vẫn thường đi theo ông của ngài, một vị tông sư rèn đúc, đòi ông kể cho nghe chuyện cổ chuyện xưa.

Và ông của Tây Âu Vu Vương đã kể cho ngài về một truyền thuyết xưa xửa xừa xưa.

Thuở ấy trên trời rơi xuống vẫn thạch, tổ tiên ta đào ra một thứ kim loại kỳ lạ trong vẫn thạch, vô cùng cứng cõi, không gì phá hủy được, cũng không nấu luyện được.

Đặc tính tốt như vậy mà không thể lợi dụng thì quá đáng tiếc.

Thế là sau nhiều năm thử nghiệm, đời này qua đời khác, tổ tiên cuối cùng cũng tìm được cách nung luyện thứ kim loại ấy …

Người kể chuyện trong vai trò đột xuất ‘ông của Tây Âu Vu Vương thuở trước’ dắt đứa bé trong vai ‘Tây Âu Vu Vương hồi nhỏ’ rời khỏi sân khấu.

Vị diễn viên trong vai ‘Tây Âu Vu Vương’ bước lên đài nơi lò luyện sang nổi lửa bừng bừng.

Ngài lấy ra một con dao do chính ông ngài truyền lại, giơ lên hai tay mình, ngước mặt nhìn trời cao, rồi cuối đầu kính bái tổ tiên lần cuối cùng. (P/s 2)

Máu của Tây Âu Vu Vương như thổi bùng lên nội lực ý chí bên trong của lò lửa. (P/s 2)

Màu đỏ giận dữ bổng chốc chuyển thành màu xanh hy vọng. (P/s 2)

Hai cái lõi bị hòa tan và theo di nguyện của Tây Âu Vu Vương, được đúc thành 8 thanh gươm, mỗi thanh chạm một chữ Môn cổ, ghép lại là:

“Việt, Đồng, Bất, Khuất, Nhất, Định, Thắng, Lợi!!!”

Ông già kể chuyện dù thân thể thấp bé nhưng vẫn ráng gân cổ hô to rõ 8 chữ ấy.

Âm thanh oang oang của lão cũng hạ màn vở diễn.

Hoàng Hùng quay sang nói với Tây Âu Vu Vương:

“Vở diễn xuất sắc quá!”

Tây Âu Vu Vương mỉm cười cảm ơn thay cho đồng bào mình.

Hoàng Hùng lại nói:

“Cháu từng nghe kể qua về câu chuyện này.

Có điều rất qua loa chứ không được chi tiết như thế.

Một số nơi thì người ta nói là chỉ có 7 thanh kiếm …”

Tây Âu Vu Vương đánh gãy lời nói của Hoàng Hùng:

“Không cần khuôn sáo kiểu Trung Nguyên như thế.

Cứ nói thẳng.

Là Đồng Việt Bất Vị Bắc Tướng Dùng, đồng nước Việt không phục vụ cho tướng phương Bắc.

Phải không?”

Hoàng Hùng gật đầu cười lém lỉnh, quăng nồi ngay lập tức:

“Dạ vâng! Là một kẻ tên là Lê Tư đã nói như thế”

Tây Âu Vu Vường cười lắc đầu, không biết là lắc Hoàng Hùng hay là lắc vị Lê Tư nọ:

“Kỳ thật câu chuyện này có rất nhiều biến tấu.

Cho dù là vở diễn vừa rồi cũng không phản ánh hoàn toàn sự thật”

Hoàng Hùng thắc mắc:

“Chuyện này hẵn là cũng chỉ chừng trăm năm đi?

Dù sao Mã Viện cũng mới chết có chừng hơn 120 năm”

Tây Âu Vu Vương gật đầu:

“Chỉ hơn trăm năm thì không nên nhiều biến tấu như vậy đúng không?

Nhưng nếu chúng ta cố tình tạo ra những biến tấu ấy thì sao?”

Hoàng Hùng hai mắt tỏa sáng, gật đầu như đã hiểu:

“Thì ra là vậy!

Một mũi tên trúng mấy con nhạn nha”

Tây Âu Vu Vương biết Hoàng Hùng đã nhìn ra nhưng vẫn cố truy:

“Nói nghe thử”

“Đầu tiên là tung hỏa mù làm lẫn lộn, khiến cho người bên ngoài không biết đâu thật, đâu giả, cuối cùng đều cho là chuyện hoang đường, thậm chí cảm thấy rừng Gươm và đồng trụ là sản phẩm tưởng tượng.

Như vậy thì có thể vừa hạn chế kẻ địch thăm dò rừng Gươm lại xoa dịu những mất mát mà đồng bào ta đã phải chịu do công cuộc đồng hóa của người Hán.

Thứ nữa là vì khéo léo khơi dậy nhiệt huyết ẩn giấu trong lòng mỗi người Việt, nhắc nhở đồng bào ta kính nhớ công ơn tổ tiên, nuôi dưỡng ý chí bất khuất, thề không đầu hàng trước kẻ thù.

Như vậy thì có thể vừa khuyến khích bảo tồn những truyền thống tốt đẹp của cha ông, lại làm lớn mạnh hy vọng khôi phục tự do độc lập”

Hoàng Hùng ngẫm ngẫm lại nói:

“Đúng!

Ngoài ra còn có tạo điều kiện phát triển cho văn hóa văn nghệ ca kịch tuồng cổ của dân tộc nữa.

Rồi còn blô, bla, blao …”

“Đủ!”

Tây Âu Vu Vương bắt đầu sợ:

“Ta cũng không biết cha và ông của ta có nhiều ý nghĩ sâu xa đến như vậy.

Cảm ơn ngươi đã thông báo cho ta biết”

Hoàng Hùng cười hì hì, mắt mở to, bày ra một bộ ‘ngây thơ trong sáng vô số tội’, à nhầm, ‘ngây thơ trong sáng chưa có tội’.

Sau đó hắn nói lãng sang chuyện khác:

“Vậy Vu Vương có thể kể cho cháu nghe về câu chuyện thật sao?

Máu người thật có thể nấu luyện thần thiết sao? Làm cách nào? Vì sao không dùng sinh vật khác?

Có mấy thanh kiếm được rèn ra? Có khắc chữ sao? Tên là gì? Bây giờ ở đâu?

Blao blao blao…”

Tây Âu Vu Vương bắt đầu chóng mặt, ông tin là ông cố của mình, vị Tây Âu Vu Vương tìm ra trụ đồng hẵn là sẽ bị chết ngày khi vừa tỉnh lại nếu Hoàng Hùng là tay thầy thuốc.

Cũng may là lúc này có người tới thay vị Vu Vương ‘trẻ’ tiếp chiêu ‘mười vạn câu hỏi vầng chăng’ của Hoàng Hùng.

“Hoàng công tử!

Ta có thể giải đáp những điều này cho ngài”

“Ah! Chào bác kể chuyện!

Bác biết hết những chuyện thật à?

Hay quá!”

Thực ra thì sự thật cũng không khác mấy những gì được mô tả trong vỡ diễn, bởi vì vỡ diễn này chỉ được biểu diễn ở rừng Gươm thôi chứ không mang ra ngoài, đâu cần phải giấu diếm nhiều.

Đầu tiên là về cách thức nung nấu lõi kim loại hiếm kia không có cần ai phải hy sinh cả, những gì diễn ra trong vở kịch chỉ nhằm mục đích khơi dậy lòng quả cảm dấng thân của mọi người thôi.

Cách thức nung nấu là bí truyền từ thời Thạch Thần Cao Lỗ, theo lời trăn trối của ngài thì

Những thứ ấy có thể truyền trong tộc cho những người thật sự trung thành với giòng máu trong tim, đảm bảo kiến thức của tổ tiên tiếp tục được kế thừa,

Nhưng không thể loạn truyền, nếu rơi vào tay kẻ địch thì công cuộc khôi phục lại độc lập tự do của dân ta sẽ càng khó khăn.

Tây Âu Vu Vương thì kỳ thực đã mất vì lao lực trong quá trình đúc tạo và ông tham gia cả quá trình nấu đúc trụ đồng chứ không phải chỉ mỗi 8 thanh kiếm.

8 thanh kiếm kia là thật, nhưng nó không có khắc nhiều chữ hoa văn như vậy, chỉ khắc mỗi chữ Việt thôi, cả 8 thanh đều gọi là Việt.

Chí nguyện của Tây Âu Vu Vương thuở ấy là

“Sau này nếu có thánh nhân giáng sinh, Hùng vị lại có chủ,

Thì 8 thanh kiếm này sẽ theo đồng bào ta chiến đấu giành lại độc lập tự do

Rồi khi nào thái bình lặp lại thì Tây Âu Vu Vương đương nhiệm hãy dâng lên chúng,

Mời Hùng ban cho 8 vị Lạc tướng trấn giữ 8 phương,

Biểu thị cho ước mong vĩnh viễn hòa bình, độc lập toàn vẹn lãnh thổ, không nhường lui một tấc đất một hạt bụi đồng”

Lời kể của ông lão dừng lại hồi lâu nhưng Hoàng Hùng vẫn còn thất thần, mắt hắn không biết đã nhòe đi từ bao giờ, những giọt nước mặn vẫn lăn trên má nhỏ.

Tây Âu Vu Vương lại kiềm được nước mắt.

Ông vỗ vai, xoa lưng Hoàng Hùng rồi ôm hắn vào lòng bảo:

“Cụ cố của ta đã trút hơi thở cuối cùng sau lời nói ấy.

Nhưng có gì mà phải khóc?!

Có gì mà phải khóc cơ chứ?!

Cụ cũng không phải Lạc tướng, Quan lang,

Đâu cần phải tiếc nuối việc không thể chết trước mặt hai vị Trưng Vương.

Cụ là một thợ rèn, một thợ rèn chân chính,

Cụ rất hạnh phúc, rất hạnh phúc, rất hạnh phúc có thể được chết khi đang rèn đúc kiếm đồng cho dân ta, cho những anh hùng sẽ thay cụ vẫy máu nơi trận tiền giành lại tự do cho dân tộc, hoàn thành chí nguyện chưa tròn của các bậc dũng liệt tiên tổ.

Vậy thì có gì mà phải khóc cơ chứ!!!”

Tây Âu Vu Vương chắc chưa bao giờ dỗ trẻ, bởi trong tình cảnh này thì những lời như vừa rồi của ông sẽ chỉ làm đứa nhỏ khóc càng to hơn.

Bởi vì trẻ con không chỉ khóc vì cảm động đau đớn, chúng còn biết khóc cho những anh hùng hào khí ngất trời và những ước nguyện vĩ đại nữa.

Cũng may là Hoàng Hùng không chỉ là trẻ con, hắn có sức mạnh ý chí mà thế giới ban tặng, nên dù bị Tây Âu Vu Vương bồi thêm mấy đấm thì hắn cũng không bị nốc ao mà vẫn gượng dậy được, quẹt quẹt mắt nói:

“Sao ở trong cốc mà gió thổi cát bụi mịt mù quá”

Tây Âu Vu Vương: “…”

Ông già kể chuyện: “…”

Cháu của ông già kể chuyện: “…”

Ông già kể chuyện không hổ là diễn viên chuyên nghiệp, rất nhanh đánh vỡ sự ngượng ngùng của cả hai bên:

“À lão còn quên nói về vị trí cất giữ 8 thanh kiếm…”

Hoàng Hùng lại ngăn ông lão lắc đầu nói:

“Ông nói cháu nghe làm gì.

Đợi ngày nào các tộc thống nhất bầu chọn ra Hùng thì hẵn lộ ra.

Ấy là tâm huyết thần khí của tổ tiên, càng ít người biết càng tốt.

Thời điểm còn chưa tới”

Tây Âu Vu Vương lại lắc đầu cười nói:

“Thời điểm đã tới!”

Nhìn Hoàng Hùng nhiếu mày khó hiểu, ông chỉ vào ngực hắn nói tiếp:

“Đây chính là minh chứng!”

Hoàng Hùng thở dài cười, hắn còn tưởng gì ghê gớm, hóa ra lại là một người quá mê tín vào mấy chuyện thiên mệnh của hắn giống như 6 quái.

Khí vận mà trâu bò được như vậy thì một vị ‘thế giới khí vận chi tử’ duy nhất của thế giới này như hắn đều có thể nằm thắng, cần gì phải lao lực chạy đông chạy tây, động tay động chân cho mắc công.

Mặc dù hắn cũng cảm thấy mình rất là may mắn, nhưng may mắn cùng chức vị Hùng không thể và cũng không nên có quan hệ trực tiếp.

Lên chức lãnh đạo một dân tộc mà dựa vào may mắn thì cái dân tộc đó chắc sắp diệt tuyệt đến nơi.

Nếu như không thể thành công áp dụng lý thuyết dân chủ bầu cử trong đầu mình,

Thì Hoàng Hùng thà học cách bồi dưỡng con trưởng kế thừa ngai vị, phong đất cho con thứ kiến quốc, của thời Chu,

Chứ tuyệt nhiên sẽ không dùng chiêu mê tín dị đoan, cổ hoặc dân tâm như trò ‘thiên mệnh’ của triều Hán.

Nói cho cùng thì Chu 800 năm, Hán 400 năm.

Huống hồ ở giữa còn có Tân Mãng chen ngang, nếu không phải may mắn xuất hiện một vị con cháu xuất sắc là Quang Vũ Đế Lưu Tú thì phải là Hán 200.

Tây Âu Vu Vương không biết suy nghĩ của Hoàng Hùng nhưng ông biết là hắn không hiểu hết ý mình:

“Lạc Việt Thân Điểu không đơn giản như cháu nghĩ đâu.

Chẵng lẽ cháu không nhớ rằng ta là người đã tìm ra động tiên truyền thừa và mang đi nó hay sao?

Vì sao bây giờ nó nằm trong tay cháu?”

Hoàng Hùng nghi hoặc:

“Cháu tưởng là Vu Vương đã đưa nó cho cha cháu?”

Tây Âu Vu Vương cười nói:

“Cháu cảm thấy ta là loại người sẽ tùy tiện đem tín vật truyền thừa của dân tộc đưa ra ngoài sao?

Huống hồ ta còn chưa gặp được Lạc Long bao giờ, chỉ mới nghe qua danh tiếng thôi, mà còn là danh tiếng khi hắn mới bỏ làng đi bụi nữa”

Hoàng Hùng trợn mắt nhìn ngài Vu Vương, còn cậu bé cháu của ông già kể chuyện thì phì cười khi nghe từ ‘đi bụi’.

Tây Âu Vu Vương nói tiếp:

“Ta đã mang Lạc Việt Thần Điểu về bộ tộc.

Khi đó ta còn chưa là Vu Vương, đâu có quyền nắm giữ nó.

Cha ta, Vu Vương tiền nhiệm, đã giao cho chú ta Cao Tấn bảo quản nó”

Nói rồi quay sang ông lão kể chuyện.

Ông lão kể chuyện cuối đầu tiếc nuối:

“Lão chính là Cao Tấn, cũng là cao thủ số một của bộ tộc lúc ấy.

Khi được giao cho Lạc Việt Thần Điểu thì ta đã cất giữ vô cùng kỹ,

Đặt trong một ngăn bí mật ở trên bàn thờ cha mẹ ta,

Trong phòng thờ cũng có hàng loạt cơ quan do chính ta, anh cả và mấy vị trưởng lão tự tay chế tạo.

Thế rồi … nó cứ vậy mà đột nhiên biến mất”

Tây Âu Vu Vương thấy chú mình chìm vào cảm xúc thì tiếp lời:

“Cũng vì chuyện này mà chú của ta bị phạt đánh gãy các khớp xương tay chân, bỏ đói 3 ngày.

May mà ý chí võ đạo của chú cực mạnh nên mới khôi phục lại như người bình thường được.

Nhưng mà cũng chỉ đến đó thôi.

Chú đã không thể múa đao lộng thương được nữa.

Chỉ có thể làm ông già lọm khọm kể chuyện trong gánh hát”

Hoàng Hùng chớp chớp mắt nhìn vị Vu Vương nghĩ: ‘Ngài nói về chú của ngài mà dùng những từ ngữ như vậy thích hợp sao?’.

Ông lão kia thì dường như đã quen cái miệng thẳng ngốc của cháu mình, lắc đầu phì cười, xua tan hết cảm xúc tiêu cực:

“Lão vẫn luôn tưởng rằng Lạc Việt Thần Điểu bị người đánh cắp.

Điều ấy chưa bao giờ thôi dằn vặt bản thân ta.

Cho dù trong mơ thì lão cũng muốn đoạt lại thần vật của tổ tiên.

Có điều bây giờ thì lão đã hiểu.

Đó là vì thần vật biết chọn chủ.

Lạc Việt Thần Điểu cũng giống với Thuận Thiên kiếm.

Không phải thánh nhân không thể nắm giữ”

Hoàng Hùng nửa tin nửa ngờ, phải biết Lạc Việt Thần Điểu từng nằm trong tay của cha hắn, hắn, rồi sau đó là cả Hoàng Uyển nữa.

Hắn không cảm thấy bất kỳ ai trong 3 người mình là thánh nhân cả, mặc dù hắn rất tôn kính cha hắn, và cũng rất yêu quý ông ngoại nuôi.

Tây Âu Vu Vương nhận ra điều nghi hoặc của Hoàng Hùng:

“Lạc Việt Thần Điểu biến mất khi ta chuẫn bị lên nhận chức Vu Vương.

Nó ở lại tộc ta hết thảy 9 năm.

Mặc dù ta không biết có phải là có một quy luật nào đó không nhưng hẵn là không có ai nắm giữ nó lâu hơn 9 năm”

Điều này cũng không xóa đi nghi hoặc của Hoàng Hùng,

Trừ khi ý nghĩa của số 9 được nêu ra rạch ròi,

Hoặc

Có một lý do khác thỏa đáng hơn.

(P/s: Nói luôn là lý do thực sự đã được đưa ra trong lời nói của Tây Âu Vu Vương.

Nó cũng giải thích luôn vì sao Tây Vu Vương có thể tìm về Thuận Thiên kiếm sau nhiều lần kiếm ấy biến mất trong tay các vị thủ lĩnh cộng đồng khác.

Muốn biết tường tận thì đọc n chương nữa đi,

Hoặc đoán.

Nếu có bạn nào đoán đúng được 6-7 phần ý tác thì tác sẽ công bố luôn trong commment)

(P/s 1:

Mã Viện được cho là người đã khởi nguồn cho câu nói ‘da ngựa bọc thây’.

Đương nhiên là câu nói thì có khả năng nhưng truyền thống thì không.

Những tướng quân anh dũng thời cổ hầu như đều coi việc chết trên trận mạc khi đang chiến đấu là điều vinh quang, còn việc chết trên giường bệnh, trong xó nhà là sỉ nhục.

Mã Viện những ngày cuối đời đã bị bệnh tật tra tấn, chết trên đường hành quân, trong một chiến dịch bình định Sơn Việt ở Ngũ Lĩnh.

Đối với ông tổ của câu thành ngữ ‘da ngựa bọc thây’ mà nói, đó hẵn là một điều đau xót)

(P/s 2:

Lưu ý đầu tiên và quan trọng x3 ĐỪNG THỬ, Tác Không Chịu Trách Nhiệm và tác khẳng định luôn là thông tin xương máu có thể làm tăng nhiệt độ của lửa không hoàn toàn chính xác, họa hoằn lắm mà thôi.

Sau đó là nói về màu sắc của lửa.

Nếu không có các chất xúc tác đặc biệt, vật liệu cháy cũng bình thường không có gì quá lạ thì màu sắc của lửa sẽ thay đổi khi nhiệt độ ngọn lửa tăng lên.

Đỏ đậm < Đỏ nhạt < Cam < Vàng, Xanh dương, Trắng

Ba cái cuối cùng rất khó khẳng định cái nào nóng hơn bởi vì tới nhiệt độ đó rồi thì trừ phòng thí nghiệm chuyên dụng ra, hầu như không thể đảm bảo được việc không có sự tham gia của chất xúc tác.

Chất xúc tác: “Tau cũng ếu mún tham gia đâu mà nó kéo tau vào đấy!!!”)

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.