Xác Ấm

Chương 9: Chương 9




Đêm đó, khi nằm trên sàn Cổng 12, tôi ngủ thiếp đi. Giấc ngủ mới này tất nhiên cũng khác biệt. Cơ thể chúng tôi không thấy “mệt”, chúng tôi không cần “nghỉ”. Nhưng đôi khi, sau nhiều ngày hay nhiều tuần thức chong chong, đầu óc chúng tôi không thể chịu nổi nữa, và chúng tôi quỵ ngã. Chúng tôi tự cho phép mình chết đi, ngừng hoạt động, không còn một suy nghĩ gì nữa trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tuần. Đủ lâu để thu thập lại những electron trong bản chất của chúng tôi, để giữ cho chúng tôi nguyên vẹn thêm chút nữa. Giấc ngủ ấy chẳng có gì là dễ chịu hay êm đềm; nó đáng ghét và đầy miễn cưỡng, như một lá phổi nhân tạo cho cái vỏ khò khè của tâm hồn chúng tôi. Nhưng đêm nay, một điều khác lạ đã xảy ra.

Tôi nằm mơ.

Mờ ảo, nhạt nhòa, nhuốm một màu vàng đục như phim cũ hàng thế kỷ, những cảnh tượng trong cuộc đời trước kia của tôi lập lòe trong khoảng trống của giấc ngủ. Những dáng người vô định bước qua những cánh cửa đang tan chảy để đi vào những căn buồng tăm tối. Nhiều giọng nói luồn lách qua đầu tôi, trầm và lè nhè như những tên khổng lồ say rượu. Tôi chơi những môn thể thao không rõ rệt, tôi xem những bộ phim không đầu không cuối, tôi cười nói với những hình thù không tên tuổi. Giữa những bức ảnh thoáng qua của một cuộc sống chưa từng được ai xem xét, tôi thoáng nhìn thấy một thú vui, một điều gì đó mà xưa kia tôi đã say mê theo đuổi để rồi bị đem hiến lên bàn thờ đẫm máu của tính thực tế. Guitar ư? Khiêu vũ? Chơi xe địa hình? Cho dù là gì đi chăng nữa thì nó cũng không xuyên qua được lớp màn khói dày đặc bao phủ trí nhớ của tôi. Tất cả vẫn tối đen. Trống trơn. Vô danh.

Tôi đã bắt đầu tự hỏi mình từ đâu đến. Con người tôi hiện nay, cái kẻ ăn xin lúng túng vụng về này… có phải tôi đã xây dựng từ nền tảng cuộc sống cũ của mình, hay tôi đã đội mồ sống dậy như một tờ giấy trắng? Bao nhiêu phần trong con người tôi là được thừa hưởng lại, và bao nhiêu phần là do tôi tự tạo ra? Các câu hỏi trước kia vốn chỉ là những ý nghĩ vớ vẩn giờ bỗng trở nên cấp bách đến lạ làng. Liệu tôi có cội rễ gắn kết chắc chắn với con người tôi trước kia không? Hay là tôi có quyền chọn lựa thay đổi.

Tôi thức giấc và nhìn đăm đăm lên trần nhà cao tít. Những ký ức kia, vốn đã trống rỗng, giờ liền tan biến hoàn toàn. Trời vẫn còn tối, và tôi có thể nghe thấy tiếng vợ tôi hú hí với gã nhân tình mới đằng sau cánh cửa buồng nhân viên gần đó. Tôi cố lờ họ đi. Hôm nay tôi đã tình cờ bắt quả tang họ một lần rồi. Họ trần truồng nằm đó, vụng về áp người vào nhau, gầm ghè sờ soạng da thịt xám ngoét của nhau. Hắn cù rũ. Cô ta khô khốc. Họ nhìn nhau với vẻ bối rối, như thể một sức mạnh vô hình nào đó đã đẩy họ vào đống tay chân ướt át rối rắm này. Mắt họ như đang hỏi, “Mày là đứa quái nào?” trong khi họ giật đùng đùng như những con rối làm bằng thịt.

Họ không dừng lại hay thậm chí chẳng có phản ứng gì khi thấy tôi đứng đó. Họ chỉ nhìn tôi rồi tiếp tục cọ người vào nhau. Tôi gật đầu, rồi quay về Cổng 12, và đó chính là sức nặng cuối cùng đánh cho tâm trí tôi thành què quặt. Tôi quỵ xuống sàn và ngủ.

Tôi không biết sao bồn chồn xúc động thế mà chỉ sau vài giờ mình lại đã thức dậy rồi. Tôi vẫn còn cảm nhận được sức nặng của bao nhiêu ý nghĩ dồn nén trên bộ não yếu ớt của mình, nhưng tôi không nghĩ mình còn ngủ thêm được nữa. Có tiếng gì vo ve vù vù trong đầu tôi, làm tôi tỉnh như sáo. Tôi lần tay tìm thứ duy nhất có thể giúp được trong những lúc như thế này. Tôi cho tay vào túi và lấy ra mẩu óc cuối cùng.

Khi sức sống còn sót lại mờ dần khỏi não, những thứ linh tinh vô ích thường biến mất đầu tiên. Lời thoại từ các bộ phim, nhạc quảng cáo trên đài, tin lá cải về người nổi tiếng và khẩu hiệu chính trị, tất cả sẽ tan biến, chỉ để lại những ký ức rõ rệt, sâu sắc nhất. Khi bộ não chết đi, sự sống trong nó trở nên rõ ràng, cô đọng hơn. Nó đậm đà hơn theo thời gian, như một loại rượu vang thượng hạng vậy.

Mẩu óc trong tay tôi đã hơi khô, chuyển sang màu nâu nâu xam xám. Nó sắp hỏng rồi. Nếu tôi còn kiếm được thêm vài phút nữa từ ký ức của Perry thì cũng còn là may, nhưng đó sẽ là những phút rực rỡ sống còn biết nhường nào. Nhắm mắt lại, tôi bỏ nó vào miệng và vừa nhai vừa nghĩ, Đừng bỏ tôi vội, Perry. Chỉ một lát nữa thôi. Thêm một chút nữa thôi. Xin làm ơn.

* * *

Tôi lao ra khỏi đường hầm tối nghẹt, rơi vào một vùng đầy ánh sáng và âm thanh. Một làn không khí mới bao bọc lấy tôi, khô và lạnh, trong khi họ lau nốt dấu vết cuối cùng của quê hương trên da tôi. Tôi thấy đau nhói khi họ cắt một cái gì đó, và đột nhiên tôi thấy mình nhỏ bé hẳn. Tôi không còn là ai khác ngoài chính mình, bé nhỏ, yếu ớt, và cô đơn vô cùng. Tôi được nhấc lên và chuyền qua những tầm cao vời vợi, qua những vực thẳm toang hoác, và được đưa cho Mẹ. Mẹ ôm lấy tôi, to lớn hơn và mềm mại hơn nhiều so với những gì tôi đã tưởng tượng khi còn ở trong, và tôi cố mở mắt ra. Tôi nhìn thấy Mẹ. Mẹ thật vĩ đại, như cả vũ trụ, Mẹ là toàn bộ thế giới. Thế giới mỉm cười với tôi, và khi Mẹ lên tiếng, đó là giọng nói của Chúa, mênh mông vang vọng đầy ý nghĩa, nhưng toàn những từ ngữ mà tôi không thể hiểu nổi, ong ong trong cái đầu trống trơn của tôi.

Mẹ nói…

* * *

Tôi đang ở trong một căn buồng tối tăm, xiêu vẹo, tìm nhặt các vật liệu y tế cho vào hộp. Đi cùng tôi trong buổi thu gom này là một đám nhỏ dân thường, tất cả đều được Đại tá Rosso đích thân chọn, trừ một người. Một người đã tự xung phong. Một người đã nhìn thấy ánh mắt tôi và lo lắng. Một người muốn cứu tôi.

“Anh có nghe thấy không?” Julie nói và nhìn quanh.

“Không,” tôi đáp ngay, tay vẫn tiếp tục xếp đồ.

“Tớ thì có,” Nora bảo, gạt mớ tóc xoăn tít ra khỏi mắt. “Pear này, có khi bọn mình nên…”

“Bọn mình vẫn ổn. Chúng ta đã xem xét kỹ nơi này, nó an toàn mà. Cứ làm việc đi.”

Họ không ngừng quan sát tôi, căng thẳng như các hộ lý trong bệnh viện, lúc nào cũng sẵn sàng can thiệp. Việc ấy chẳng thay đổi được gì. Tôi sẽ không khiến họ lâm nguy nhưng tôi vẫn sẽ tìm ra cách. Khi chỉ còn một mình, khi không ai để ý, tôi sẽ làm điều đó. Tôi sẽ khiến nó xảy ra. Họ vẫn luôn cố gắng nhưng tình cảm đẹp đẽ của họ chỉ làm tôi thêm quyết tâm mà thôi. Sao họ không hiểu là đã quá muộn rồi?

Một tiếng động. Giờ thì tôi cũng nghe thấy nó. Tiếng bước chân rầm rầm trên cầu thang, tiếng rên rỉ đồng thanh. Tai Julie thính hơn tai tôi nhiều đến thế ư, hay tôi đã ngừng lắng nghe? Tôi cầm khẩu súng trường lên và quay lại…

Không, tôi buột miệng kêu lên giữa chừng. Không phải cái này. Tôi không muốn thấy điều này.

Trước sự ngạc nhiên của tôi, tất cả ngưng lại. Perry ngẩng lên nhìn tôi, giọng nói vang vọng từ trên trời xuống. “Đây là ký ức của ta cơ mà, nhớ không? Ở đây mi chỉ là khách. Nếu mi không muốn thấy nữa thì nhổ nó ra đi.”

Tôi choáng váng. Ký ức không còn đi theo kịch bản định sẵn. Có phải tôi đang nói chuyện với chính bộ óc mà tôi đang tiêu hóa không? Tôi không biết có bao nhiêu phần là Perry thực sự và bao nhiêu là do tôi tưởng tượng ra, nhưng tôi đã bị cuốn theo.

Chúng ta phải nhìn thấy cuộc đời của cậu mới đúng! Tôi hét lên với gã. Không phải là cái này! Tại sao cậu lại muốn ý nghĩ cuối cùng của mình là ký ức về cái chết nhơ nhuốc, vô nghĩa của cậu?

“Mi nghĩ cái chết là vô nghĩa ư?” gã vặc lại, nạp một băng đạn vào súng. Julie và những người khác đứng tại chỗ chờ đợi như những đạo cụ trên phông màn, cựa quậy vẻ sốt ruột. “Lẽ nào mi không muốn nhớ lại cái chết của mi, nếu mi có thể? Nếu không thì làm sao mi dựa vào đó để biến mình thành cái mới được?”

Cái mới ư?

“Tất nhiên rồi, đồ thây ma ngu ngốc.” Gã ghé mắt vào ống ngắm và chậm rãi quét khẩu súng dọc căn phòng, dừng lại ở Berg một lát. “Có hàng ngàn kiểu cuộc sống và cái chết khác nhau trong phạm vi siêu hình, chưa nói đến phạm vi ẩn dụ nữa. Mi không muốn cả đời làm người chết chứ?”

Ờ, không…

“Nếu thế thì hãy thư giãn đi, và để ta làm điều ta cần phải làm.”

Tôi nuốt trôi cục nghẹn trong cổ, và nói, Được thôi…

* * *

… cầm khẩu súng trường lên và quay lại, đúng lúc tiếng chân bước rầm rập lên đến đúng tầng của chúng tôi. Cửa bật mở và chúng lao vào giữa những tiếng gào thét. Chúng tôi bắn, bắn, bắn mãi, nhưng bọn chúng quá đông và quá nhanh. Tôi khom người bên Julie, cố hết sức che chắn cho nàng.

Không. Lạy Chúa. Đây không phải điều tôi muốn.

Một tên cao gầy đột nhiên xuất hiện sau lưng tôi, túm lấy chân tôi. Tôi ngã xuống, đập đầu vào bàn, và màu đỏ rực tóe lên trong mắt tôi. Thế là hết, nhưng khi màu đỏ chuyển sang đen, tôi vẫn cho phép mình hét lên một tiếng sung sướng, một cơn cực khoái ích kỷ cuối cùng trước khi tôi ngủ say vĩnh viễn:

Cuối cùng. Cuối cùng thì nó cũng xảy ra!

Và rồi…

* * *

“Perry.” Có ai chọc chọc vào sườn tôi. “Perry!”

“Gì?”

“Đừng có ngủ quên đấy nhé.”

Tôi mở mắt ra. Mặt trời rọi xuống mi mắt nhắm chặt của tôi suốt một giờ đồng hồ đã khiến mọi màu sắc xung quanh ngả sang màu xám xanh, như một tấm áp phích phim cũ treo trong một cửa hàng cho thuê phim đang chết dần chết mòn. Tôi quay đầu nhìn nàng. Nàng cười tinh nghịch và lại chọc tôi cái nữa. “Thôi chẳng sao. Anh cứ ngủ đi.”

Đằng sau khuôn mặt nàng, tôi thấy những cây cột trắng cao vòi vọi đỡ vòm mái sân vận động, và sau đó nữa là bầu trời xanh thăm thẳm. Tôi từ từ chuyển mắt mình từ mặt nàng sang bầu trời, để mặt nàng mờ thành một đám mây màu hồng vàng, rồi lại nhìn vào mặt nàng.

“Gì thế?” nàng hỏi.

“Nói cho anh nghe một điều gì lạc quan đi.”

“Lạc quan kiểu gì ?”

Tôi ngồi dậy, vòng tay ôm đầu gối. Tôi nhìn thành phố xung quanh, nhìn những tòa nhà đang sụp đổ, những con phố trống trải, cùng bầu trời cô độc, sạch trong, xanh biếc và im lặng như tờ khi thiếu đi những chiếc máy bay vạch nên các nét trắng.

“Nói với anh rằng đây không phải là tận thế.”

Nàng nằm đó một lát, ngước lên nhìn bầu trời. Rồi nàng ngồi dậy kéo một chiếc tai nghe ra khỏi mớ tóc vàng rối bù. Nàng nhẹ nhàng nhét nó vào tai tôi.

Tiếng guitar bập bùng luyến láy, rồi giàn nhạc giao hưởng dồn lên, tiếng dàn đồng ca ngân vang, và giọng hát mệt mỏi, run run của John Lennon cất lên về tình yêu vô tận bất tử. Tất cả những người chơi bản nhạc này bao giờ đều đã thành xương khô trong mộ, nhưng họ vẫn đang ở đây, tạo cảm hứng cho tôi, mời mọc tôi, lôi kéo tôi. Đoạn nhạc cuối cùng khiến có gì đó vỡ vụn trong tôi, và mắt tôi trào lệ. Sự thật huy hoàng và lời nói dối không thể tránh khỏi, đang ở bên nhau giống như tôi và Julie. Tôi có thể có cả hai không? Liệu tôi có thể sống sót trong thế giới bị nguyền rủa này và vẫn yêu Julie, người có giấc mơ vượt xa hơn cả nó? Ít nhất là trong lúc này, khi nối liền với tâm trí nàng bởi sợi dây trắng giữa tai chúng tôi, tôi cảm thấy mình có thể.

Không gì có thể thay đổi được thế giới của tôi, Lennon hát đi hát lại. Không gì có thể thay đổi được thế giới của tôi.

Julie hát một khúc nhạc cao vút, và tôi khẽ hát theo bằng giọng trầm hơn. Đây, trên mái nhà trắng nóng bỏng che chắn tiền đồn cuối cùng của nhân loại, chúng tôi nhìn ra một thế giới đang bị thay đổi đến chóng mặt, thay đổi không sao còn cứu vãn được nữa, và chúng tôi hát:

Không gì có thể thay đổi được thế giới của tôi. Không gì có thể thay đổi được thế giới của tôi.

* * *

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.