Đứa Con Của Ban Mai

Chương 15: Chương 15




Kris không nhận ra nàng. Họ đã hẹn gặp nhau ngoài một siêu thị vào buổi chiều muộn ngày hôm sau, và Grace đã tới sớm một tiếng để có thể quan sát bất kì cái gì khả nghi. Nàng ghét việc không thể tin cậy Kris hoàn toàn, nhưng sẽ quá mạo hiểm nếu xem nhẹ bất kì cái gì.

Nàng thấy Kris tới trong chiếc Chevelle ’66 yêu quí của cậu ta, động cơ gầm gừ rõ to khiến cho một cặp đàn ông trung niên ném những cái liếc ghen tị về phía cậu. Tội nghiệp Kris. Cậu ta mong có sự chú ý của đám con gái, nhưng thay vào đó chiếc xe của cậu ta chỉ thu hút đủ loại đàn ông. Ít nhất cậu ta cũng đã làm thêm một số việc với chiếc Chevelle kể từ lần cuối nàng nhìn thấy nó; giờ nó đã thực sự được sơn lại, một màu đỏ lửa rực rỡ.

Cậu ta đỗ xe ở cuối đường và chờ. Không có gì khả nghi, luồng xe không ngừng nghỉ suốt trong lúc Grace chờ đợi, nhưng nàng vẫn chờ. Sau mười lăm phút, nàng trượt ra khỏi xe tải và bước qua lớp tuyết mỏng đã rơi trên bãi đỗ xe kể từ lúc nàng tới. Trời vẫn còn có tuyết nhẹ, những bông tuyết như vải ren lượn vòng và nhảy múa trong gió. Nàng đi tới chỗ chiếc Chevelle và gõ vào cửa xe.

Kris kéo cửa sổ xuống vài inch. “Vâng, có gì không ạ?” cậu ta hỏi, hơi sốt ruột một chút.

“Chào, Kris,” nàng nói, và đôi mắt cậu ta mở lớn vì sốc. Cậu ta lập cập ra khỏi xe, hơi trượt một chút và phải tóm lấy cánh cửa để đứng thẳng. “Lạy Chúa,” cậu ta lẩm bẩm. “Lạy Chúa.”

“Chỉ là tóc giả,” nàng nói. Nàng đang mang bộ tóc vàng, thêm vào chiếc mũ lưỡi trai và kính râm. Cộng thêm việc sút hơn ba mươi pound (15kg), và không ai từng biết nàng trước đây có thể nhận ra nàng.

Ánh mắt ngơ ngẩn của Kris bắt đầu từ dưới hai chân đi ủng của nàng, ngước lên chiếc quần jean bó, rồi đến chiếc áo khoác vải đin, và kết thúc một lần nữa trên mặt nàng. Miệng cậu ta há hốc, nhưng không có âm thanh nào thoát ra. Chót mũi cậu ta đỏ bừng. “Lạy Chúa,” cậu ta nói lần nữa. Đột nhiên cậu ta lao vào nàng và quấn lấy nàng bằng cả hai tay, ôm nàng thật chặt và lắc lư nàng tới lui. Những đầu dây thần kinh của Grace đã trong trạng thái căng thẳng quá lâu; bản năng đầu tiên của nàng, gần như không chế ngự nổi, là đá văng chân cậu ta ra. Nhưng rồi cậu ta phát ra một âm thanh nghèn nghẹt, đôi vai rung lên, và nàng nhận ra cậu ta đang khóc.

“Suỵt,” nàng nhẹ nhàng nói, đặt cánh tay mình quanh cậu ta. “Ổn rồi.” Thật kì lạ khi để cho ai đó chạm vào nàng, và nàng chạm vào họ. Nàng đã sống quá lâu mà không có tiếp xúc thể xác nào đến mức nàng cảm thấy vừa kì cục lại vừa đói khát, “Em đã sợ lắm,” cậu ta nói vào cái mũ của nàng, giọng rung rung. “Không biết chị có ổn không, chị có chỗ để ở không –“

“Đôi khi có, đôi khi không,” nàng nói, vỗ vỗ lưng cậu. “Tuần đầu tiên là tệ nhất. Em có nghĩ mình nên vào trong xe không? Chị không muốn gây chú ý.”

“Sao? À, vâng.” Cậu ta đi vòng quanh chiếc xe để mở cửa hành khách cho nàng, một sự lịch thiệp làm nàng cảm động. Cậu ta vẫn còn gầy nhẳng và ốm nhách, kính vẫn còn trượt xuống chóp mũi, nhưng trong vài đường nét nàng đã có thể nhìn thấy sự trưởng thành. Vai cậu ta trông rộng hơn một chút, giọng đã mất gần hết nét trẻ thơ, thậm chí râu cũng dày hơn một chút. Tuổi trưởng thành sẽ thích hợp với cậu ta hơn là thời niên thiếu; khi những người đàn ông đồng tuổi cậu ta phải chiến đấu với chứng phát phì tuổi trung niên, Kris sẽ vẫn còn gọn ghẽ.

Cậu ta chuồi vào sau tay lái và đóng cửa, rồi quay sang quan sát nàng. Đôi mắt cậu ta vẫn còn ướt, nhưng giờ cậu ta đã lắc đầu trong lúc thắc mắc. “Em cũng không nhận ra chị,” cậu ta kính cẩn thừa nhận. “Chị - chị nhỏ xíu.”

“Gầy,” nàng sửa lời. “Chị vẫn cao như trước. Cao hơn,” nàng nói, chỉ vào cái gót một inch rưỡi (~4cm) của đôi ủng.

“Hay,” cậu ta nói, nhìn chúng và chớp mắt. Cậu ta liếc về phía chân mình, và nàng nghĩ có lẽ cậu ta sẽ nhanh chóng trở thành người nghiện đi ủng. Không có gì mang lại phong cách cho một người đàn ông bằng ủng. Nói đến đó, cả phụ nữ cũng vậy; chắc chắn là nàng đã bước đi với uy quyền nhiều hơn khi nàng mang ủng.

Rồi cậu ta nhìn lại mặt nàng, và nàng thấy môi dưới cậu ta lại run run lần nữa. “Trông chị mệt mỏi,” cậu ta buột miệng.

“Đêm qua chị mất ngủ.” Đó là sự thật trần trụi. Nàng đã không thể nhắm mắt lại được sau khi đọc dòng ghi chú nhỏ của Niall Đen. Mỗi lần nàng nghĩ về nó nàng lại thấy sống lưng gợn lên, và da gà nổi khắp toàn thân. Nhưng sau cơn sốc ban đầu, không phải phần về năm 1945 làm nàng thấy kì lạ, mà là phần “và thế là Grace tới với Creag Dhu.” Chắc chắn chàng có ý nói về một sự ban phước[40], nhưng vì lý do gì đó nó có vẻ rất riêng tư, giống như được viết cho mình nàng. Nàng cảm nhận như thể chàng đang mời gọi nàng sử dụng công thức ấy, để bước xuyên qua những tầng những lớp thời gian. Những tính toán của chàng rất cụ thể, chính xác là sáu trăm bảy mươi lăm năm; trở về năm 1322, năm mà thông điệp đó được viết ra.

Kris vươn tay ra nắm lấy bàn tay đeo găng của nàng, và siết chặt. “Chị đã ở đâu?”

“Khắp nơi. Chị không ở lâu một chỗ nào cả.”

“Cảnh sát –“

“Chị không lo ngại cảnh sát bằng những gã của Parrish. Ít nhất cảnh sát sẽ không tích cực săn lùng chị, không phải sau một thời gian dài như thế. Chắc chắn, họ sẽ theo các dấu vết, nhưng chỉ thế thôi. Người của Parrish có lần đã suýt bắt được chị.”

“Thật kì cục,” cậu ta nói, lúc lắc đầu. “Chị vẫn nghĩ đó là vì những tờ giấy mà chị cầm ư?”

“Chị biết là thế.” Nàng nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ, cánh cửa đã bị mờ đi vì hơi thở của họ. “Chị đã dịch chúng. Chị biết chính xác tại sao hắn lại muốn chúng.”

Kris cuộn tay thành nắm đấm, nhìn chằm chằm vào mặt nghiêng của nàng. Cậu muốn đưa nàng đi đâu đó và cho nàng ăn, cậu muốn cuộn một tấm chăn quanh người nàng, cậu muốn – cậu muốn đấm cái gì đó. Trông nàng quá mong manh. Phải, đúng là từ đó. Mong manh. Grace đã luôn là một người đặc biệt với cậu; cậu đã biết nàng gần hết cả đời mình, đã phải lòng nàng kể từ khi cậu mười bảy. Nàng luôn rất tốt với cậu, cư xử với cậu ngang hàng trong khi hầu hết người lớn thì không. Grace bản chất là một người tốt, thông minh và tốt bụng, và miệng nàng, ôi miệng nàng khiến cho cậu thấy nóng và quay cuồng hết cả. Cậu đã mơ về việc hôn nàng nhưng không bao giờ thu đủ can đảm. Thật ngốc nghếch làm sao, nhưng khi nàng gọi cho cậu ngày hôm ấy, cậu đã lại nghĩ về việc hôn nàng, và thậm chí còn nghĩ thế cũng không sao bởi vì bây giờ Ford đã chết. Nhưng nhìn vào nàng cậu biết rằng việc ấy có sao, sẽ không bao giờ làm được cả. Nàng lặng lẽ và buồn bã và xa cách, và khuôn miệng đó trông không giống như nàng còn cười. Cậu kéo mình ra khỏi những ý nghĩ đó và vươn tay ra ghế sau cầm một tờ giấy in ra từ máy tính. “Đây,” cậu nói, đặt nó lên đùi nàng. Có thể cậu sẽ không bao giờ hôn nàng, nhưng cậu sẽ làm những gì có thể để giúp nàng. “Đây là bản thiết kế của toà nhà trụ sở Tổ chức.”

Grace gỡ kính râm ra và đặt nó lên bảng đồng hồ. “Em lấy đâu ra cái này?” nàng ngạc nhiên hỏi, lật dở từng trang.

“Chà, đó là một toà nhà khá mới,” cậu ta giải thích. “Một bản sao kế hoạch xây dựng phải được nộp cho các nhà hoạch định thành phố, em đoán là để phòng các trường hợp khẩn cấp hay đại loại thế.”

Nàng bắn cho cậu ta cái liếc xéo. “Vậy là em vào trong toà thị chính và xin một bản sao à?”

“Không hẳn. Em lấy nó ra từ máy tính của họ,” cậu ta nói “vô tình thôi.”

“Mà không gây báo động, chị hi vọng thế.”

“A, làm ơn đi,” cậu ta đùa. “Chỉ là nói đùa thôi mà.” Chẳng ích lợi gì trong việc mắng mỏ cậu ta; rút cuộc, nàng đang đòi hỏi cậu ta phải thực hiện một vụ phạm tội còn nghiêm trọng hơn hack máy tính rất nhiều. “Vào trong hệ thống máy tính của Tổ chức không dễ thế đâu,” nàng cảnh báo. “Không, nhưng em đã nghĩ ra rồi. Ý tưởng về đội bảo trì của chị rất hay. Chúng ta ăn cắp hai bộ đồng phục, lẻn vào trong. Nhưng tất cả những gì chúng ta cần làm là vào trong toà nhà, chúng ta không thực sự cần phải vào các văn phòng của Tổ chức. Xem này,” cậu ta nói, chỉ vào trong bản thiết kế. “Đây là thang máy dịch vụ. Chúng ta sẽ đi theo nó tới tầng bên dưới, rồi dùng lối vào trên trần nhà để tới chỗ bảng điện. Em sẽ cắm dây vào một đường, kéo ra cái danh sách, và chúng ta dò từ đó.”

“Thế còn hệ thống báo động?”

“Chà, đó có thể là một hệ thống độc lập, vì thế họ không cần phải lo có ai hack vào cả; một vài file chắc sẽ có mã an ninh, nhưng không phải là bản thân hệ thống đó. Việc của em là lấy những tệp tin đã được mã hoá.”

Cậu ta nói nghe thì dễ, nhưng nàng không mong đợi các file của Tổ chức lại dễ dàng bẻ khóa như của toà thị chính. Parrish quá khôn ngoan, quá khéo léo, và hắn có quá nhiều thứ để che giấu. “Chắc phải có một danh sách các mật khẩu cho bất kì file mã hoá nào, nhưng nó có thể ở bất kì đâu. Parrish có thể giữ nó trong nhà hắn ta, hay có thể có một cái két sắt trong văn phòng để hắn cất giấu. Cách nào thì chúng ta cũng sẽ không lấy nó được.”

Cậu ta lắc đầu, cười toe toét. “Chị sẽ ngạc nhiên vì có rất nhiều người giữ một bản danh sách mật khẩu trên bàn của họ. Dù sao cũng đáng để tìm, một khi chúng ta chắc chắn là mọi người đều đã về nhà.”

“Chị có vài ý tưởng về mật khẩu,” nàng nói. “Chúng ta sẽ thử mấy cái đó đầu tiên.” Nàng rùng mình trước ý tưởng bước vào những văn phòng trống trơn đó và thấy chúng không hề trống trơn, mà Parrish ở lại làm khuya. Nghe giọng hắn trên điện thoại đã đủ tệ rồi; nàng không nghĩ nàng có thể chịu được việc thực sự nhìn thấy hắn. Tuy nhiên, nếu cần thiết phải đột nhập vào văn phòng riêng của hắn, nàng sẽ làm. Kris sẽ sẵn lòng làm, nhưng nàng sẽ không sẵn lòng để cậu ta làm thế; nàng đã làm liên luỵ cậu ta đủ rồi.

“Okay,” cậu ta nói, thực sự run rẩy vì háo hức. “Đi thôi.”

“Bây giờ á?”

“Tại sao không?” Đúng vậy, sao lại không. Chẳng có lý do gì để chờ, không nếu họ có thể tóm được vài bộ đồng phục từ dịch vụ bảo trì. “Em có mang laptop theo không?” nàng hỏi.

“Ở ghế sau.”

Nàng nhún vai. “Vậy có khi chúng ta cũng nên thử xem sao. Mình sẽ đi bằng xe chị.”

“Tại sao?” Trông cậu ta có vẻ bị sỉ nhục vì nàng miễn cưỡng đi trong chiếc Chevelle.

“Chiếc xe này hơi gây chú ý,” nàng chỉ ra, giọng khô khan. Một nụ cười nở trên mặt cậu ta. “Phải, đúng thật nhỉ?” cậu ta nói, dành cho bảng đồng hồ một cái vỗ âu yếm. “Okay.” Cậu ta lấy laptop ra khỏi ghế sau và rút chìa khoá ra khỏi ổ. Grace cầm lại kính râm. Họ ra ngoài và khoá cửa, và họ bước đi chậm chạp ngang qua bãi xe trơn trượt về phía xe tải của nàng.

Họ im lặng trong lúc Grace lái xe. Nàng cố nghĩ ra một kế hoạch nào đó khả thi để lấy bộ đồng phục thợ bảo trì, nhưng không nghĩ được gì. Và còn có cả bảo vệ toà nhà sau giờ làm việc; có thể đội bảo trì có một chìa khoá cửa sau, có thể không. Sau sáu tháng lau dọn nhà cửa, nàng biết một vài người không suy nghĩ gì đã đưa chìa khóa dự phòng cho dịch vụ dọn dẹp để họ không bị phiền phức phải ở nhà lúc ngôi nhà của họ được dọn dẹp. Grace luôn ngạc nhiên trước sự thiếu cẩn trọng của họ. Tuy nhiên, việc đó vẫn xảy ra. Trừ khi Parrish làm chủ toàn bộ toà nhà, cơ hội cho đội bảo trì có thể vào mà không đánh động lính gác là 50-50. Nếu Parrish làm chủ toà nhà, không đời nào; hắn sẽ không quan tâm nếu đội sửa chữa phải chờ, hay nếu một tay bảo vệ phải đi từ chỗ anh ta đang đứng trong toà nhà tới cửa để cho họ vào. Hắn thậm chí còn không thèm xem xét đến sự bất tiện của họ trong lúc thảo hệ thống an ninh.

Với những điều nàng đã học được trong tám tháng qua, Grace phải thừa nhận rằng hắn đúng. Nếu bạn có cái gì đó đáng để bảo vệ, bạn phải bảo vệ nó, và bạn không được nhượng bộ chuyện an ninh chỉ vì lo lắng đội bảo trì phải chờ đợi trong vài phút. Tất nhiên, một hệ thống phức tạp sẽ sử dụng một camera ba trăm sáu mươi độ để nhận dạng đội thợ, và cánh cửa sẽ được mở bằng một hệ thống điều khiển từ xa.

Camera. Nàng hít vào một hơi. “Chúng ta làm sai hết rồi.”

“Thật à?” Kris lơ đãng hỏi. “Ý chị là gì.”

“Có thể có camera ở lối vào cho đội sửa chữa. Làm sao em lượn lờ tới chỗ chiếc xe tải và lục lọi tìm đồng phục dự trữ được?”

Cậu ta xoa cằm, những ngón tay dài, thanh mảnh cào qua lớp râu mới nhú khi chìm vào trạng thái suy ngẫm. “Để xem… okay. Đầu tiên, chị thả em xuống cách một toà nhà và em sẽ đi xem xét. Nếu có camera, thì chúng ta sẽ phải tìm ra nó là 360 độ và được quan sát, hay nó chỉ là loại ghi lại hình ảnh để ai đó có thể xem băng sau khi vụ phạm tội đã diễn ra rồi.”

“Cách này hay cách khác nếu có camera nghĩa là cả em cũng phải giả dạng,” Grace kiên quyết nói.

Cậu ta ngạc nhiên trước ý tưởng ấy, và trái tim nàng đau đớn vì sự ngây thơ của tuổi trẻ.

“Em phải bỏ kính ra,” nàng quyết định. “Thay vào đó chị sẽ mang chúng. Và chúng ta phải làm em to lên bằng cách nhét giấy trong đồng phục của em.”

Trông cậu ta có vẻ nghi ngại. “Em sẽ không nhìn được gì,” cậu ta phản đối. “Cả chị cũng thế.”

Có lý. Một trong hai phải làm hoa tiêu. Nàng lôi kính râm của nàng ra khỏi túi áo và đưa nó cho cậu ta. “Chọc vỡ hai mắt kính đi.” Nàng đã trả năm mươi cent cho nó ở một sân bán hàng thùng, vì thế nàng không do dự khi làm hỏng nó.

Kris ngoan ngoãn chọc vỡ hai mắt kính nhựa, và đưa cái gọng lại cho nàng. Grace đeo nó vào, và liếc nhìn mình trong gương chiếu hậu. Ở cự li gần trông khá là rõ nó không có tròng, nhưng một camera an ninh thì không phát hiện được.

“Đáng lẽ mình nên lên kế hoạch và có thể tận dụng thời gian để tự mua mấy bộ đồng phục,” nàng nói, nhún vai. “Nhưng dù thế nào cũng có thể thành công.”

Nó đã thành công. Kris đi bộ trở lại chỗ xe tải, khuôn mặt đỏ lựng vì vui mừng và vì tiếp xúc với cái lạnh. Cậu ta trèo vào trong, hổn hển, và mắt kính lập tức mờ đi. Cậu ta giật nó ra và lơ đãng giơ nó trước ống sưởi trong khi cười đắc thắng với nàng bằng đôi mắt cận thị. “Có một cái camera,” cậu ta thông báo không ra hơi. “Nhưng nó không phải loại 360 độ.”

“Làm sao em biết?”

“Em kiểm tra.”

“Kris!”

“Không sao hết. Nó ở trong góc, chĩa thẳng vào cửa bảo trì. Em trượt vòng quanh một phía toà nhà và đứng ngoài phạm vi của nó. Em không thấy cáp nối nào từ camera vào trong toà nhà cả. Và còn tốt hơn nữa là –“ Cậu ta dừng lại, toe toét với nàng.

“Sao?” Nàng sốt ruột hỏi khi cậu ta để lửng câu nói, và cậu ta sung sướng cười lớn.

“Cánh cửa được chống để mở ra!”

Rõ ràng Parrish và Tổ chức không sở hữu toà nhà này, Grace nghĩ.

“Đó là loại cửa khoá lại mỗi lần nó đóng,” Kris giải thích. “Em đoán đội bảo trì đã mệt mỏi với việc phải mở khoá mỗi lần ra vào, vì thế họ kéo một trong những tấm thảm có mặt sau bằng cao su vào ngưỡng cửa, và ngăn không cho nó đóng hoàn toàn.”

Ôi, những con người đơn giản, khôn khéo muốn thoát khỏi một chút rắc rối. Chỉ với hành động ấy, họ đã vô hiệu hoá hệ thống an ninh của toà nhà.

“Chúng ta vẫn cần đồng phục.”

Cậu ta cười chiến thắng với nàng. “Có một cái xe tải lớn đỗ ở đó. Em đã kiểm tra. Cửa trước thì khoá, và có một màn kim loại ngăn buồng lái với phía sau xe, em đoán để họ có thể để mở cửa sau mà không lo lắng chiếc xe sẽ bị trộm. Dù sao, có rất nhiều đồ ở phía sau, và vài bộ quần áo bẩn nữa.” Cậu ta trượt kính vào chỗ. “Chúng ta còn cần gì thêm nữa nào?”

Thực vậy, còn gì hơn nữa?

*

Camera bên ngoài cánh cửa bảo trì không trọn một vòng. Nhưng cái trong sảnh thì có.

Parrish quan sát hai thợ bảo trì nữa đi vào trong toà nhà. Cặp lông mày của hắn nhướn lên một chút khi gã thợ đầu tiên đẩy cửa mở ra. Cho tới lúc này để cho nó mở ra vẫn hợp với mục đích của hắn, để cho Grace một đường vào dễ dàng như một mồi nhử, nhưng ngay khi hắn có cô ta hắn sẽ đảm bảo chủ toà nhà tìm một đội bảo trì mới. Tất nhiên, các văn phòng của Tổ chức có những biện pháp an ninh nghiêm ngặt hơn nhiều, nhưng việc đó cũng không biện hộ được cho sự cẩu thả của đội thợ hiện tại.

Hai người sau cùng này mang theo hộp dụng cụ, và đeo hai chiếc thắt lưng to bản bên ngoài bộ đồ bảo hộ rộng thùng thình của bọn họ. Một là phụ nữ gày tong teo, đội chiếc mũ lưỡi trai đơn giản trên bộ tóc xoăn đơn giản của cô ta. Một cái kính quá khổ chiếm hết khuôn mặt. Người đàn ông cao, mập, vụng về. Hắn mang găng tay và đội một cái mũ lông kì cục trùm tai, và dường như hắn không biết mình đang đi đâu. Người phụ nữ dẫn đường khi họ đi xuống hành lang ngắn để tới thang máy.

Hắn không quan tâm tới họ. Hắn quan sát tỉ mỉ để tìm con chuột nhỏ mà hắn hi vọng sẽ cắn câu của hắn. Có lẽ cô ta sẽ không tới; nếu cô ta đã nhìn thấy hắn bắn, cô ta sẽ không muốn ở bất kì nơi nào gần hắn, tất nhiên trừ khi cô ta tính bắn hắn để trả thù, nhưng hắn chắc chắn Grace không phải là loại phụ nữ có thể giết chóc. Hắn có thể nhận ra bản chất sát nhân trong từng người cụ thể; chẳng hạn như ở Conrad. Grace thì không có cái đó.

Mặt khác, cô ta đã làm hắn và tất cả những người khác ngạc nhiên khi có thể trốn tránh cả cảnh sát và những người giỏi nhất của hắn suốt hơn tám tháng. Cô ta đã tự chứng tỏ bản thân là một kẻ có tài xoay sở khác thường. Nếu cô ta không gọi tới Tổ chức, không ai biết tí gì về chuyện cô ta đã trở lại Minneapolis. Sai lầm chết người. Nhưng mà, bọn tội phạm thường trượt chân bằng cách quay trở lại hiện trường gây án, có lẽ là để hân hoan với sự thông minh của chúng.

Nhưng Grace đã gọi tới Tổ chức, đặc biệt tìm hắn, và vì cô ta đã không nói gì, lý do duy nhất là để tìm ra liệu hắn có trong thành phố hay không. Giờ cô ta đã biết là hắn có, cô ta sẽ làm gì? Xuất hiện ở nhà hắn và nói chuyện với hắn? Cô ta có thể nói trên điện thoại, trừ khi cô ta đột nhiên sợ hãi trước ý tưởng để lộ vị trí của mình.

Vậy là cô ta có nhìn thấy hắn hay không? Cô ta muốn nói chuyện hay muốn bắn? Thật hư thân, nhưng hắn lại hi vọng câu trả lời là vế sau. Ý nghĩ Grace với khẩu súng trong tay thú vị một cách kì lạ. Tất nhiên, cô ta sẽ không bao giờ dùng tới nó được, nhưng hắn không muốn cô ta khóc lóc và yếu ớt trong tay hắn; hắn muốn cô ta giận dữ, chiến đấu, để cho chiến thắng của hắn càng ngọt ngào hơn khi kĩ năng của hắn vượt trội cơn giận của cô ta, giống như với Calla. Màn nghỉ giữa hiệp của hắn với Calla đáng hài lòng một cách khác thường; chắc chắn với Grace sự sung sướng của hắn còn lớn hơn nhiều.

Cô ta có đến hay là không nhỉ? Cánh cửa dịch vụ vẫn được mở một cách tiện lợi, nhưng có lẽ cô ta sẽ thử vào trong lúc ban ngày, khi cô ta dễ dàng trà trộn với dòng người đi ra đi vào hơn.

Hắn bình tĩnh chờ đợi.

*

“Đến nơi rồi,” Kris thì thầm thích thú khi cậu ta mở tấm lót trần trong căn phòng đặt máy tính chủ của Tổ chức. Căn phòng im ắng, mờ tối, chỉ có tiếng o o của chiếc máy điện tử phá vỡ sự im lặng.

Họ mất một tiếng mới tới được chỗ này. Chẳng có gì là dễ dàng như khi nhìn trên giấy cả. Đầu tiên họ phải né đội bảo trì thực sự, cuối cùng đã phải trèo lên mười bẩy tầng lầu thay vì sử dụng thang máy sửa chữa. Sau khi định vị được lối vào đường ống dẫn sưởi ở bên trên, họ trèo lên một cái tủ dụng cụ cao và cố đu mình vào trong, đặt tấm chắn trở vào chỗ của nó để không ai biết họ đã lên trên. Rồi, dùng chiếc đèn pin lấy ra từ hộp dụng cụ của nàng, họ mò mẫm qua hàng dặm đường ống chỉ để cuối cùng phát hiện ra là họ vẫn phải đi vào trong các văn phòng của Tổ chức. Họ xác định phòng máy tính và lắng nghe một lúc, nhưng căn phòng có vẻ trống không. Họ cẩn thận dỡ bỏ tấm lót trần.

Kris thò đầu và vai ra khỏi cái lỗ và nhìn quanh. “Không có camera,” cậu ta thì thầm. “Nhưng có một ô kính trên cửa, vì thế chúng ta cần phải ngồi ở chỗ không ai đi qua nhìn thấy được.”

“Nếu vô tình chúng ta đang trèo ra hay vào mà ai đó đi qua thì chết,” Grace nói. Mặc dù vậy họ cũng không còn cách nào; họ không thể đi qua bất kì cánh cửa nào, vì thế phải là trần nhà thôi.

Kris chống tay lên hai bên cái lỗ và từ từ hạ mình xuống qua đó cho tới khi cậu ta đung đưa bằng ngón tay. Trần nhà cao đúng tiêu chuẩn tám feet (2m4), để sưởi ấm được dễ dàng; với cánh tay vươn dài, cậu ta chỉ còn cách sàn hơn một foot (30cm). Cậu ta hạ cánh nhẹ nhàng trên sàn trải thảm, rồi quay người để đỡ chiếc laptop Grace chuyển xuống. Sau khi đặt cẩn thận cái đó, cậu ta giơ tay lên cho nàng khi nàng lăng mình xuống từ trên trần nhà, đỡ quanh eo nàng và cẩn thận đặt nàng lên sàn.

Cậu ta nhanh chóng nhìn quanh, ước lượng cách bố trí. Đây là môi trường của cậu ta, và khuôn mặt gầy gò của cậu ta sáng lên vì háo hức. “Ngồi ở kia, đằng sau cái bàn ấy,” cậu ta chỉ và nói. “Để em cắm cái này vào rồi sẽ ra với chị.” Vừa nói cậu ta vừa bận rộn tháo mấy sợi dây và cáp từ một máy, rồi cắm chúng vào trong laptop của cậu. Xong việc, cậu ta sắp xếp lại vài cuốn hướng dẫn vận hành để ngăn tầm nhìn tới đầu họ vì nó bị thò ra trên mép bàn một chút.

Cậu thụp xuống bên cạnh nàng và khoanh chân lại, đặt chiếc laptop ở giữa đùi. Cậu ấn vào nút bật và cỗ máy nhỏ mạnh mẽ bắt đầu kêu o o và phát ra những tiếng típ nhỏ khi khởi động. Họ phải bắt chéo hai ngón tay[41] trong lúc đó, bởi vì Kris dùng hệ điều hành Windows 95; nếu Tổ chức sử dụng DOS, cậu ta sẽ không thể dùng laptop của mình. Thay vào đó cậu ta phải ngồi bên bàn điều khiển, và với cái ô kính trên cửa việc đó sẽ rất mạo hiểm. Nhưng Tổ chức cũng dùng cùng hệ điều hành, và danh mục sáng lên trên màn hình.

“Okay, xem các file nào,” cậu ta lẩm bẩm, chà đầu ngón tay qua con chuột nhỏ được chêm vào giữa bàn phím (máy IBM đây mà J) và chỉ con trỏ tới biểu tượng đúng. Cậu ta kích một lần, và màn hình hiện đầy danh sách các file.

Cậu ta cuộn xuống trong khi họ tìm cái gì đó hấp dẫn. “Hãy xem bản báo cáo tài chính và hoàn thuế đi,” nàng nói, và cậu ta kéo những file đó lên. Chúng phức tạp không thể tin được; họ không có thời gian để giải mã tất cả, vì thế cậu ta copy chúng vào đĩa mềm và trở về với danh sách.

“Danh sách quyên góp,” Grace chỉ, và cậu ta copy cả cái đó. Chẳng còn mấy thứ trông có vẻ quan trọng; họ nhìn vào file bảng lương, và Grace hít hà trước số tiền Parrish được trả. Hàng triệu. Tổ chức trả cho hắn hàng triệu mỗi năm. Chỉ để điều hành Tổ chức ư? Nàng chắc chắn Tổ chức có thể tìm một nhà điều hành có khả năng với số tiền ít hơn nhiều, nếu đó là tất cả những gì họ cần.

“Không có gì nhiều ở đây,” Kris nói sau một giờ mở từng file riêng biệt và kiểm tra các thông tin trong ấy. “Những ý tưởng chị có về đám mật khẩu là gì đấy? Hãy thử vài cái và xem chuyện gì xảy ra nào.”

“Kho báu,” nàng nói, và cậu ta liếc nàng một cái sắc lẻm khi ngoan ngoãn gõ từ đó và kích vào nút “Nhập.”

Không tìm thấy file. “Đền Thánh.”

Không tìm thấy file. “Hiệp sĩ.”

Không tìm thấy file. “Thánh chiến.”

“Ý chị là những gã thầy tu xấu xa mà chị đã đọc ở nhà em đêm đó hả?” Kris hỏi, gõ từ đó vào.

“Đúng đấy.” Không tìm thấy file.

“Chết tiệt,” nàng thở ra. Nàng đã gõ những mật mã có khả năng nhất. “Người bảo vệ.”

Không tìm thấy file.

“Niall… Giáo hoàng… Kho báu Đền Thánh. Cho phép số lượng không hạn chế trong đặt tên file là ý tưởng sáng chói của kẻ nào vậy? Để xem… hắn cũng đủ tự cao tự đại để đặt tên file theo tên chính mình. Thử Parrish và Sawyer xem.”

Không tìm thấy file hiện lên trên màn hình sau mỗi lần thử. Kris im lặng trừ lúc hỏi nàng đánh vần Niall như thế nào.

“Quyền năng,” nàng gợi ý. Cậu ta gõ. “Không được.”

“Vải liệm… Turin… Hòm… Giao ước.”

Cậu ta lắc đầu sau mỗi lần thử. “Không được.”

Grace xoa sau gáy mình. Dù sao thì Hòm giao ước cũng cách quá xa trọng tâm. Nàng chỉ nghĩ về nó bởi vì bộ phim Indiana Jones, trong đó Nazis đã cố tìm chiếc Hòm để thống trị thế giới. Có một mẩu sự thật ở trong bộ phim, bởi vì Hitler đích thực đã bị ám ảnh với việc thu thập các thánh tích tôn giáo cổ xưa.

“Trong năm 1945 Thiên Chúa, Người bảo vệ tiêu diệt con quỷ người Đức, và thế là Grace tới với Creag Dhu.”

Nàng nhớ lại câu trích dẫn, và một lần nữa gai ốc lại nổi đầy mình. Creag Dhu không thể là mật mã, vì vị trí Kho báu là thứ mà Parrish không biết. “Hitler,” nàng gợi ý.

Và Kris dành cho nàng cái nhìn ngạc nhiên, nhưng cậu ta vẫn gõ cái tên.

Màn hình đầy những chữ.

Nàng ngồi lại, choáng váng. Không thể nào. Nàng thậm chí còn không nghĩ có một mối liên hệ, bất chấp những cảnh báo của tập tài liệu về Tổ chức của Quỷ.

“Lạy Chúa,” Kris thì thầm. Cậu ta nhanh chóng đút một đĩa mềm nữa vào ổ đĩa và copy tệp tin mà không cần dừng lại để đọc. Chỉ khi tệp tin đã được copy và chiếc đĩa được cất ở chỗ an toàn cậu ta mới từ từ kéo màn hình xuống.

“Họ thực sự nghĩ họ có thể thống trị thế giới nếu tìm ra được cái gọi là kho báu ấy,” cậu ta thì thào. Những gì họ đang đọc không có gì khác hơn là một bản tuyên ngôn, một bản tuyên bố tôn chỉ. “Tập tài liệu của chị được cho là sẽ đưa ra vị trí của nó, phải không? Và hắn thực sự giết Ford và Bryant chỉ bởi vì họ biết về tập tài liệu?” Giận dữ và khó tin hoà trong giọng nói của cậu.

Nàng nhìn vào cậu ta. Ánh mắt nàng long lanh vì choáng. “Đúng vậy,” nàng sững sờ nói. “Chỉ ra vị trí, đúng vậy.”

“Quỷ thần ơi,” cậu ta thì thầm. Rồi đôi mắt cậu ta mở lớn và cậu ta nhìn vào màn hình một cách lo ngại. “Em đoán đáng lẽ em không nên nói thế hử?”

Một cánh cửa đóng lại trên hành lang. Họ chết cứng. Sau một giây, Kris nhah nhẹn dập màn hình xuống để chiếc máy tính gần như đóng lại, che đi ánh sáng từ màn hình. Chỉ có âm thanh rất khẽ bên ngoài cánh cửa; bất kể đó là ai thì người đó cũng di chuyển rất nhẹ. Nhưng bước chân tiếp tục mà không dừng, và sau một lúc là tiếng một cánh cửa khác đóng lại trên hành lang.

s

“Chúng ta phải ra khỏi đây,” Kris lẩm bẩm. “Chị còn ý tưởng nào về mật khẩu không?”

Nàng lắc đầu. Cậu ta nhanh chóng đóng file, rời khỏi chương trình, và tắt laptop. Trong vòng một phút cậu ta đã nối lại các dây cắm và đặt các sách hướng dẫn vào chỗ cũ.

Cậu ta bò tới cánh cửa và ló đầu lên chỉ vừa đủ để lén nhìn ra ngoài cửa sổ, kiểm tra cả hai phía. “Được rồi,” cậu ta thì thầm, đứng dậy và nhanh chóng đi qua căn phòng.

Grace kéo chiếc ghế lại chỗ tấm lót trần và trèo lên. Đầu tiên nàng đặt laptop và mấy chiếc đĩa vào trong đường ống, rồi nàng đu mình lên qua lỗ hổng. Kris trợ giúp bằng cách đẩy từ bên dưới.

Nàng quay người để thò tay xuống tóm lấy cổ áo cậu ta, nửa kéo cậu ta qua lỗ. Họ đều thở hổn hển khi đặt lại tấm lót trần và bật đèn pin lên. Trong im lặng họ bò ngược trở lại, cả hai đều nghĩ về những gì họ vừa đọc.

*

Đêm nay cô ta không tới,” Parrish bảo với Conrad, sự thất vọng rành rành trong giọng hắn. “Nửa đêm rồi; cô ta sẽ không trông chờ tôi làm việc khuya đến thế.”

Conrad không trả lời. Hắn theo dõi màn hình khi hai thợ bảo trì đi xuống hành lang và rời đi bằng cánh cửa để hở. Họ có vẻ vội vã, và người phụ nữ mang theo một cái túi đeo vai.

Cô ta nhỏ nhắn, và có mái tóc xoăn vàng hoe. Góc độ của camera không tốt, nhưng có cái gì đó ở đường viền cằm của cô ta trông quen quen.

Một tiếng gầm đùng đục trong cổ họng hắn, và Parrish nhướn lông mày lên dò hỏi. “Đó là cô ta,” Conrad nói, đã chạy tới chỗ cánh cửa.

Parrish ở ngay đằng sau hắn khi hắn lao ra khỏi cánh cửa dịch vụ và chạy xuống con đường nhỏ dẫn ra phố. Hắn nhìn cả hai hướng, nhưng vỉa hè trống trơn. Một chiếc xe rời đi; tài xế là một gã da đen trẻ mặc áo vét, có thể là một nhân viên cấp thấp làm việc khuya.

Cách đó cỡ một toà nhà, tiếng động cơ khởi động. Conrad chạy dọc vỉa hè về hướng phát ra tiếng ấy, giày của hắn trượt trên vỉa hè đóng tuyết. Hơi thở của hắn phả ra sương trong không khí lạnh. Hắn tới được chỗ rẽ để nhìn một cặp đèn pha biến mất quanh một chỗ rẽ khác.

“Có nhìn thấy cô ta không?” Parrish hổn hển hỏi, dừng lại ngay sau hắn. “Kiểu xe là gì?”

“Tôi không biết,” Conrad nói. “Nhưng người đàn bà đó là Grace St. John. Cô ta mang một cái cặp đeo nhỏ, có thể là cặp máy tính.”

“Máy tính” Parrish cảm thấy huyết áp tăng lên. “Chết tiệt, con chó cái đã vào hệ thống của chúng ta!” Hắn và Conrad nhanh chóng trở lại văn phòng, run rẩy vì lạnh do chỗ quần áo phong phanh. Cô ta sẽ không thể truy cập được những file có mật khẩu của hắn, nhưng hắn tức điên lên vì cô ta đã lọt qua được lớp bảo vệ của hắn, vì trong suốt thời gian ấy cô ta đã ở gần hắn đến thế mà hắn vẫn không biết. Con chó cái khốn kiếp, làm sao cô ta làm được?

“Tôi tự hỏi bạn cô ta là ai?” Cô ta có thể tìm được ai giúp đỡ mình? Cô ta sẽ không liên lạc với những người quen cũ, bởi vì cô ta không chắc cuộc gọi đầu tiên của họ không phải là cho cảnh sát. Phải là ai đó cô ta đã gặp sau này.”

“Có lẽ đó là lý do tại sao chúng ta không thể tìm được cô ta,” Conrad gợi ý. “Chúng ta đã tìm kiếm một người phụ nữ độc thân, thay vì một cặp đôi.”

Ý tưởng đó chọc giận Parrish. Hắn nghiến răng khi họ đi nhanh tới phòng máy tính và mở cánh cửa. Mọi thứ trông đều bình thường, trừ một chiếc ghế ở sai chỗ.

Conrad chỉ vào trần nhà. Ngay phía trên chiếc ghế, một tấm lót trần hơi bị xô lệch.

“Tìm cô ta,” Parrish nói bằng giọng gần như thì thào. Cô ta đã ở đó, quá gần; cô ta đã chế nhạo hắn khi tới đây với một người đàn ông khác. Hắn không biết cô ta đã tìm được gì hữu dụng trong hệ thống máy tính của hắn chưa, nhưng chỉ cái thực tế cô ta dám đột nhập vào đây đã làm hắn run lên vì giận. “Tìm cả hai đứa. Và giết cả hai.”

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.