Winter's Edge

Chương 4: Chương 4




Căn phòng tối om và tĩnh mịch khi cô thức dậy sáng hôm sau, một mình trên chiếc giường rộng và không thoải mái. Người cô vã mồ hôi, hai bàn tay run lẩy bẩy. Cô lắc nhẹ người cho tỉnh táo rồi lăn khỏi giường. Chỉ là cơn ác mộng thôi, cô tự nhủ khi kéo vẹt những tấm rèm nặng nề và nhìn ra buổi bình minh Pennsylvania. Bầu trời xanh một màu ảm đạm, không giống như đôi mắt Patrick, và tâm trạng cô cũng nặng trĩu như thời tiết. Cô mở cửa sổ, mong chờ một cơn gió nhẹ, nhưng bị hứng trọn một luồng gió lạnh tê tái. Cô vội vã sập cửa vào.

Chiếc đồng hồ nhỏ xíu màu vàng ở đầu giường điểm sáu giờ ba mươi, và cô tự hỏi phải chăng cô thường thức dậy vào giờ giấc sớm như thế. Cô không có tâm trạng đùa với số mệnh bằng một cơn ác mộng khác – ngoài ra, còn rất nhiều điều cô cần tìm hiểu. Có lẽ hôm nay là ngày cô bắt đầu tìm kiếm các câu trả lời cho vài trong số hàng ngàn câu hỏi cứ bám riết lấy cô.

Cô đi qua cánh cửa nối liền với phòng tắm nhỏ và chà xát thật mạnh gương mặt bằng nước nóng và bánh xà phòng được thiết kế riêng để trong đĩa đựng bằng vàng. Nhìn qua gương, một lần nữa cô lấy làm thắc mắc trước sự kỳ quặc của những thứ xung quanh: sự xa hoa lạnh lẽo và hiện đại hiện diện khắp mọi nơi trong phòng cô. Một vẻ xa hoa vừa gượng ép vừa ngột ngạt. Nhưng hình ảnh phản chiếu của gương mặt hình trái xoan với đôi mắt xanh lục hơi xếch là gương mặt một người lạ, và không thể cho cô những câu trả lời.

Cô nhanh chóng mặc lại bộ quần áo tối qua – bằng vào những gì cô thấy trong chiếc tủ áo và tủ ngăn kéo chật ních thì không còn thứ gì thậm chí là hơi hơi phù hợp cho một ngày đầu xuân ở một trang trại. Dù Molly có cảm giác đây không phải là trang trại bình thường.

Căn bếp kiểu xưa thậm chí còn quyến rũ hơn dưới ánh sáng ban ngày. Một chiếc lò sưởi cổ lỗ xây bằng gạch và một cái lò nướng chiếm một bên tường, ngọn lửa nhỏ đang kêu lách tách vui vẻ, đem hơi ấm cho căn phòng cả về mặt tinh thần lẫn thể chất. Quầy bếp bằng gỗ đã lên nước bóng loáng, những cái ấm bằng đồng treo trên các bức tường quét vôi trắng, một bếp lò lớn kiểu cổ cùng chiếc bàn gỗ dài tạo cho ta một cảm giác về những nhu cầu và những niềm vui giản dị, và lần đầu tiên từ khi đặt chân đến Bucks County cô thấy lòng mình thanh thản một cách nhẹ nhàng và nguy hiểm. Lần đầu tiên kể từ lúc cô tỉnh dậy trong căn phòng bệnh viện, mới cách đây một ngày ngắn ngủi.

”Trời ơi, cô Winters, sớm thế này mà cô đã làm gì ở đây?” Một giọng nói kinh ngạc hỏi từ cửa phòng để thức ăn. ”Tôi đang chuẩn bị mang bữa sáng lên phòng cho cô như mọi lần đây.” Trong khung cửa hiện ra một bóng người hoạt bát và tự nhiên, lại một dấu hiệu bình thường đáng lo ngại khác.

”Chào buổi sáng,” Molly ngập ngừng chào bà ta, thu vào tầm mắt mái tóc xám, đôi mắt đen tò mò và thái độ mẫu tử thông thường của bà. ”Tôi đã quyết định ngày hôm nay quá đẹp trời để ở lì trên giường.”

Người đàn bà quay người ngó ra ngoài cửa sổ, rồi ngoái lại nhìn Molly ngạc nhiên. ”Hôm nay hoàn toàn không phải là ngày tôi sẽ chọn để đi picnic, nhưng tôi cho là cũng khá đẹp, nhất là so với tối hôm qua. Và dĩ nhiên là cô đã ở bệnh viện quá lâu, cô bé tội nghiệp. Giờ cô hãy sang phòng ăn ngồi và một tí nữa thôi tôi sẽ dọn bữa cho cô.”

”Nếu bà không phiền thì tôi thích ăn ở đây hơn.”

Bà ta nom càng thêm sửng sốt. ”Chà, tất nhiên là được, nếu đó là điều cô muốn. Phải công nhận là trong này ấm áp và dễ chịu hơn. Quả thực Pat vẫn luôn ăn sáng ở đây cùng với tôi. Cậu ta bảo nó làm cậu ta thấy ấm hơn.” Bà tiếp tục kể lể rông dài trong lúc khéo léo dọn bữa ăn ra bàn, rót cho cô một tách cà phê chỉ với lượng kem và đường vừa đủ, và bắt đầu nướng mấy lát bánh mì. ”Cô muốn ăn điểm tâm những gì, cô Winters? Như mọi khi nhé?”

Molly có thể cảm thấy hai má mình đỏ lên một cách bất thường. ”Tôi e rằng tôi...đó là...”

”Ôi lạy Chúa, tôi thật ngớ ngẩn quá, cứ huyên thuyên mãi với cô. Pat đã giải thích về vấn đề nhỏ của cô nhưng tôi quên khuấy mất. Chắc cô thậm chí không biết tôi là ai nữa kia? Tôi là Fran Morse, quản gia trong nhà, và cô thường dùng hai lát bánh mì nướng kèm theo nước cam. Nhưng sáng nay biết đâu tôi có thể dụ được cô chuyển sang thứ khác bổ dưỡng hơn?”

Molly thử một ngụm cà phê, ngon tuyệt. ”À, chồng tôi...Patrick đã nấu ăn tối qua,” cô thận trọng nói, cảm thấy ngần ngại một cách kỳ cục khi gọi Patrick là chồng mình.

”Thế thì hẳn là cô đói meo rồi,” bà quản gia tươi cười nói. ”Anh chàng đó nấu ăn dở lắm.”

”Tôi cũng hơi đói,” cô thú nhận. ”Nếu không quá phiền bà thì tôi muốn vài quả trứng và thịt muối xông khói.”

”Chà, thật mừng khi thấy cô thèm ăn. Mấy tháng vừa rồi cô ăn uống như chim ấy. Và cô vẫn nhớ món bánh nướng xốp của tôi, cô quả là người có tâm mà!” Bà đặt thứ gì đó xuống trước mặt Molly, biết ý lờ đi vẻ giật thót của cô.

Cô phải tập làm quen với việc nhớ lại thôi. Molly run run tự nhủ. Mọi thứ cứ thình lình hiện về kiểu như thế, từng chút một. Cô cắn một miếng bánh, và cái vị nửa lạ nửa quen làm ấm đầu lưỡi cô. Người cô từ từ thả lỏng. Lần đầu tiên kể từ khi đến đây cô cảm thấy thoải mái và phần nào vui vẻ. Đây là người dường như không gán cho cô cả ngàn tội danh không tên. Molly nhìn bà Morse lăng xăng trong gian bếp với một cảm giác biết ơn thầm lặng, và cô ước sao cảm giác ấy có thể kéo dài mãi mãi.

Đến lúc đánh bay hết bữa điểm tâm và mẻ bánh nướng thứ hai cùng cữ cà phê thì cô đã sẵn sàng đối mặt với ngày hôm nay. ”Bà có cần phụ rửa bát không?” Cô đề nghị, đem bát đĩa của mình đến bồn rửa.

Bà Morse nhìn cô chằm chằm vẻ lạ lùng. ”Tôi chả bao giờ nghĩ sẽ có ngày được nghe lại câu ấy từ miệng cô,” bà thẳng thắn. ”Nhưng lúc nào tôi chả bảo dưới vẻ bề ngoài cô không quá tệ mà. Không cần đâu, cô bé yêu quý, tự tôi xử lí chỗ này được rồi. Xét cho cùng tôi được trả lương cho việc đó mà.”

Molly gật đầu, cố gắng làm ngơ câu nói đó cứ tự lặp đi lặp lại, luẩn quẩn trong óc cô. Lúc nào tôi chả bảo dưới vẻ bề ngoài anh không đến nỗi tệ. Cô đã nói câu đó với ai?

Cô chẳng biết nói gì đáp lại, đành ép ra một nụ cười hòa nhã. ”Nếu bà cần bất kỳ sự giúp đỡ nào với bữa trưa hoặc bất cứ chuyện gì thì cứ gọi tôi.”

Cô ra khỏi bếp thì mới hơn bẩy giờ, tâm trạng buồn phiền hơn mức cô muốn thừa nhận. Cô không biết bắt đầu từ đâu. Cuộc đời cô hệt một cuốn tiểu thuyết của Agatha Christie – đầy những manh mối và dấu hỏi, những nghi ngờ và những hỏa mù, và nghĩ tới việc lọc chúng ra thật ngao ngán. Có vẻ như sẽ chẳng có ai để cô có thể quay sang nhờ giúp đỡ hoặc xin đáp án – căn cứ vào ấn tượng ban đầu có được từ Patrick và người trong nhà thì quanh vùng này cô không hề có bạn bè, và không có khả năng có người nào muốn dây dưa gì với cô.

Kết cục là cô quay về căn phòng ngủ xa hoa, giương mắt nhìn bốn bức tường. Patrick đã dậy và ra khỏi nhà từ sớm, còn Willy có vẻ sẽ không ló mặt ra cho đến quá trưa nếu được, và Molly phải bầu bạn với nỗi bực dọc của chính mình.

Cô đi đến phòng chứa quần áo, xem qua tủ đồ của mình. Trong vòng vài phút sự ghê tởm của cô càng tăng cao. Những bộ cánh đắt tiền đều rất đẹp, nhưng chúng không hợp với cô giống như khoác áo kim tuyến cho một đứa trẻ vậy. Cô đi ra đầu cầu thang và gọi bà Morse.

”Chúng ta có còn cái rương cũ nào không?”

”Cô đang làm cái gì vậy, hả cô Winters?” Bà ta hiện ra ở chân cầu thang, trên bàn tay tháo vát là một cái giẻ bẩn.

”Dọn nhà, giống như bà thôi,” cô nhanh trí trả lời. ”Nhà ta còn cái rương nào không?”

”Có một cái ở đáy tủ của cô đấy,” bà Morse đáp, vẻ hiếu kì bừng lên trên mặt. ”Cô có cần giúp gì không?”

”Tôi có thể tự lo được,” cô nói, quay trở vào để khám phá cái rương kiểu cũ, to đến nỗi chứa được cả cái tủ áo đắt tiền của Molly. Cô thong thả làm việc, cho vào đấy hầu như tất cả những bộ đồ thanh lịch không thể tưởng tượng nổi. Hẳn là Patrick đã nói giảm đi nhiều khi anh ta bảo cô thích tiêu tiền. Thật may là dường như tiền cô lại sẵn. Đồ đoàn trong các tủ và ngăn kéo phải đáng giá cả một gia tài. Một cảm giác tội lỗi chợt tràn ngập trong cô. Chắc chắn trong thị trấn có vài tổ chức từ thiện uy tín sẽ thích những thứ khá khẩm hơn những loại quần áo giẻ rách.

Cô giữ lại rất ít: một số áo thun dài tay màu dịu, một chiếc quần jeans loại hai bạc màu quý báu. Một chiếc áo caftan thêu chỉ vàng vượt trội so với những thứ còn lại, một chiếc váy ôm bằng sa tanh màu đen với cổ áo khoét sâu, một bộ pyjama lụa màu ngọc lam.

Dù thích hay không, cô vẫn đích thực là dạng người của quần jeans và áo T-shirt, và chui vào những bộ đồ tinh tế chỉ khiến cô trông càng thêm lố bịch. Và làm tình hình trở nên tồi tệ.

Tình hình nào? Cô bỗng tự hỏi mình. Không có câu trả lời. Cô chỉ biết một điều bản năng là cô muốn được xinh đẹp. Liệu cô có ngu ngốc đến độ quan tâm xem ông chồng xấu tính của mình nghĩ gì không? Nếu cô có nuôi dưỡng bất kỳ tình cảm nồng ấm nào hướng về phía ấy thì cô sẽ đủ thông minh để quên chúng cho nhanh. Cuộc đời cô là một mớ bòng bong, và cô tuyệt nhiên không biết làm thế nào mà mọi sự thành ra như thế. Cô thở dài lúc đóng nắp chiếc rương, giã từ những bộ cánh đắt tiền không thích hợp.

Những gì còn lại không mấy nhiều nhặn. Hàng loạt ngăn kéo ngập tràn đồ lót bằng đăng ten mà cô đã yêu đến mê mẩn, những chiếc áo ngủ ngứa ngáy, và những áo len dài tay và áo sơ mi. Và một chiếc váy trắng muốt dập lỗ tuyệt đẹp bằng vải cotton. Người phụ nữ mà Molly bắt đầu coi như người tiền nhiệm của mình có vẻ không thích những thứ đơn giản như thế này, và cô tự hỏi hay là thực ra chúng thuộc về một người khác. Sắp tới cô có thể diện nó nếu có sự kiện nào yêu cầu phải mặc váy, xem ra hiếm có khả năng. Từ những gì Patrick nói, có vẻ như cô sẽ bị giam lỏng. Đến khi nào trí nhớ của cô trở lại, Molly nghĩ có khi cô thích tình trạng đó hơn.

Cô liếc xuống bộ quần áo trên người. Sớm muộn gì cô cũng sẽ tìm ra cách giành lại tiền của mình. Cô cần mua ít nhất là một số món đồ mới – cô không thể ngày nào cũng quanh quẩn với hai chiếc quần jeans bạc phếch và áo len dài tay được. Nhưng có lẽ cô mặc thế cũng chẳng sao. Xét cho cùng cô định gây ấn tượng với ai? Nếu là Patrick Winters, thì rõ là hoài công vô ích.

”Tôi có một chiếc rương đầy quần áo ở trên kia.” Molly đi vào bếp. ”Bà có biết chỗ nào để tôi có thể chuyển nó đi không?”

Bà Morse đương dở tay với bữa trưa ngẩng lên ngạc nhiên. ”Chuyển nó đi ư?” bà vô thức lặp lại.

”Vâng.” Molly vươn tay nhón một miếng cà rốt xắt lát. ”Tôi không cần chúng nữa. Chúng hoàn toàn không thuộc phong cách của tôi.”

”Vốn dĩ tôi vẫn thắc mắc là liệu cô có từng biết điều đó không.” Bà đưa cho cô một lát cà rốt nữa. ”Tôi sẽ bảo Ben lo liệu chuyện đó lúc ông ấy về ăn trưa.”

”Ben?”

Bà nhìn cô vẻ lạ lùng. ”Chồng tôi,” bà trả lời sau một quãng im lặng nặng nề. ”Cô đã biết ông ấy từ hồi cô mười sáu tuổi.”

Molly so vai vẻ xấu hổ. “Bữa trưa sắp xong rồi chứ? Tôi đói meo rồi.”

Bà Morse gật đầu, ném cho cô một cái nhìn còn nặng nề hơn. “Cô Winters, tôi không biết liệu ở địa vị tôi có được nói điều này không, nhưng …”

“Bà vẫn thường gọi tôi là cô Winters sao?” Molly cắt ngang, nhặt tiếp một miếng cà rốt.

“Từ lúc cô lấy chồng. Trước đó tôi và Ben đều gọi cô là Molly.”

“Vậy thì tôi nghĩ tôi nên trở lại là Molly.” Cô mỉm cười với bà. “Cô Winters xem chừng chẳng hề giống với tôi. Chí ít Molly so với cảm nhận của tôi còn gần gũi hơn.”

“Thôi được. Nếu đó là điều cô muốn.” Bà thấp thỏm liếc ra cửa. “Tôi nghĩ tốt hơn tôi nên cho cô biết vài điều trước khi họ về ăn trưa.”

Nó đó, nỗi lo âu mơ hồ khẽ cuộn lên trong bụng cô. Cô gắng gượng nở nụ cười bình tĩnh. “Cho tôi biết điều gì cơ, bà Morse?” Cô dựa vào quầy bếp, hy vọng nom dáng điệu mình thật hờ hững.

“Quanh đây ai cũng cho rằng họ sẽ lấy nhau ngay khi vụ li dị hoàn tất.” Bà nói vội nói vàng, hiển nhiên là muốn kết thúc thật nhanh.

Molly ngây ra nhìn bà ta. “Ai sẽ lấy ai?”

“Patrick. Có vẻ như cậu ấy sẽ cưới cô Canning. Chồng cô ta đã qua đời đúng cái ngày cô rời khỏi đây và có vẻ như bọn họ đã lập tức bắt đầu xúc tiến các kế hoạch.” Bà tỏ ra khổ sở. “Tôi đã nghĩ nên nói với cô thì hơn, trong trường hợp cô bắt đầu…ờ, bắt đầu có những ý kiến.”

“Những ý kiến như thế nào mới được? Rằng chồng tôi không nên sốt sắng lấy vợ kế trước khi anh ta bỏ xong vợ cả ư?” Cô không ngăn được nốt cay đắng trong giọng mình. “Cô Canning là ai? Tôi có biết cô ta không?”

“Cô và Lisa Canning đã từng thân nhau như con chấy cắn đôi ấy,” Bà Morse trả lời dứt khoát. “Hiện giờ cô ta và Patrick đang cưỡi ngựa ra ngoài. Tôi nghĩ hai người đó sẽ về ăn trưa bất cứ lúc nào. Nếu cô muốn tôi có thể sắp cho cô một khay mang lên phòng. Chẳng dễ chịu gì cho cô đâu, cô bé yêu quý ạ. Tình trạng đó vẫn luôn tồn tại giữa Patrick và cô ta, kể từ khi cô ta lấy ông già Fred Canning và chuyển đến đây năm năm trước. Mặc dù tôi vốn cho rằng nó ở phía cô ta nhiều hơn là cậu ấy.”

“Vậy tại sao anh ta còn lấy tôi? Vì tiền chăng? Anh ta đã cho tôi biết là tôi rất giàu.”

“Tôi chưa bao giờ thực sự chắc chắn về lí do anh ta lấy cô, cưng ạ. Tôi đã hi vọng rằng anh ta yêu cô.”

“Nhưng không phải đúng không.”

Bà ta loay hoay với những cái đĩa, không trả lời. Rồi sau đó ngẩng lên. “Tất cả những gì tôi biết là Pat ắt sẽ không làm điều gì như thế. Nếu cậu ta muốn số tiền đó thì cậu ta có thể có nó bằng nhiều cách khác.”

Như là giết tôi, cô thầm nghĩ, không thể thoát khỏi ý niệm ớn lạnh ấy.

Đúng lúc đó ngoài sân vang lên tiếng ồn ào, và với một vẻ bình tĩnh giả tạo Molly đến bên cửa sổ ngó ra. Và một số mảnh ghép đã khớp vào nhau trên bức tranh.

Thoạt tiên sự chú ý của cô hướng vào người đàn ông trên danh nghĩa vẫn là chồng cô. Anh ta nhìn như thể sinh ra đã ở trên yên ngựa. Anh ta cao lớn và tuyệt đẹp trong ánh mặt trời, đôi chân dài săn chắc điều khiển con ngựa hồng dũng mãnh một cách dễ dàng, và Molly không nghi ngờ gì về lí do cô lấy anh ta. Bên cạnh anh ta là cô Canning bạn cũ của cô, một mỹ nhân trẻ trung không xác định được tuổi tác, mái tóc vàng nhạt được nhuộm và chăm sóc một cách chuyên nghiệp, gương mặt tươi mơn mởn, dáng điệu cao sang và đáng ngưỡng mộ. Tất cả những cái mà Molly không có. Cô ta đang cười nắc nẻ và đặt một tay lên cánh tay Patrick, và ánh mắt anh ta nhìn cô ta gây nên một làn sóng ghen tuông tràn qua người Molly khiến cô muốn bệnh. Có thể cô không nhớ Patrick hay người đàn bà kia, nhưng cảm xúc đó là một kẻ thù cũ thân quen.

Người đàn bà xuống ngựa bằng một động tác uyển chuyển, và đột nhiên Molly nhận ra vì sao trông cô ta quen đến vậy. Chính cô ta mới thuộc về căn phòng ngủ trên gác, với những vải sa tanh nhuộm hồng, trong những bộ cánh tinh tế và đắt tiền. Chúng được làm ra cho những người phụ nữ như cô ta, và Molly tự hỏi ai đã trang trí căn phòng đó và chọn những bộ quần áo đó. Có phải là Patrick? Hay cô Canning đầy đắc lực? Hay Molly đã cố biến mình thành phiên bản của người phụ nữ Patrick yêu?

Bọn họ đều đã yên vị lúc cô bước vào phòng ăn. “Molly, bạn thân yêu!” Cô Canning đứng dậy và đón cô bằng một cái ôm đầy tình cảm và nồng nặc mùi nước hoa. Thuốc độc, Molly khẳng định, một mùi hương khá thích hợp, đồng thời nguyền rủa mình vì rành tên các loại nước hoa mà tên của bạn thân thì không nhớ.

“Chúng tôi nhớ cô quá,” người đàn bà tiếp tục. Những chiếc vòng tay bằng vàng nặng trĩu đâm vào lưng Molly. Cô ta lùi ra và nhìn vào gương mặt cô, cau mày. “Trông cô không khỏe tí nào. Và cô moi đâu ra mấy thứ quần áo kinh khủng kia?”

“Từ phòng tôi,” cô nhẹ nhàng trả lời, kín đáo nới rộng khoảng cách hết mức có thể. “Rất vui gặp lại chị.”

Đôi mắt lấp lánh của cô ta ấm áp và thân thiện và thoáng một chút ước lượng. “Bạn yêu, nhìn thấy cô thật vui quá. Chúng tôi đã vô cùng bàng hoàng khi cô bỏ trốn như thế, quá đỗi bàng hoàng.” Cô ta quay về bàn và đặt một bàn tay đầy sở hữu lên cánh tay Patrick . “Phải không anh yêu?”

Molly phần nào mong đợi trông thấy những móng tay sơn đỏ như móng vuốt. Chẳng phải Kẻ Thứ Ba luôn phải có móng tay đỏ chót đó sao? Bàn tay đặt trên cánh tay Patrick lại thon thả, với những móng tay để trơn cắt ngắn. Và gần như không đáng chú ý bằng cánh tay rám nắng săn chắc bên dưới nó, Molly tuyệt vọng nghĩ.

Patrick đã đứng lên. Anh ta chỉ nhìn cô, vẻ mặt không hề hoan nghênh. Molly nghĩ đến căn phòng của mình với một thoáng khao khát, rồi củng cố lại tinh thần.

Trông anh ta không giống kẻ có thể giết người, mà chỉ giống một người đàn ông được phụ nữ xúm quanh.

Song đấy là một động cơ khác. Nếu Molly chết, Patrick sẽ có tiền bạc của cô đồng thời trả thù được chuyện cô bỏ nhà theo người đàn ông khác. Anh ta cũng sẽ có được cô Canning xinh đẹp, và Molly buộc phải thừa nhận rằng hầu hết đàn ông ắt sẽ thấy đó là nguồn khích lệ lớn.

“Cô không thấy ăn trong phòng mình thì tốt hơn sao, Molly?” anh ta lạnh nhạt hỏi. “Cô vừa mới ra viện, và trông cô có vẻ mệt mỏi.”

“Trời đất, không!” Cô thốt lên một cách quá khích đến nỗi muốn nhăn mặt. “Tôi cần quay về nhịp sống bình thường. Tôi cần dành thời gian cho gia đình và bạn bè. Những người thân yêu,” cô bổ sung thêm và ném một ánh mắt sắc lẻm ngọt xớt về phía Patrick.

Có lẽ cô đã đẩy anh ta đi quá xa. Anh ta xô người ra khỏi bàn, nhưng một lần nữa Lisa đặt một bàn tay can ngăn lên cánh tay anh ta, và anh ta dịu lại, chỉ trừng mắt nhìn Molly.

“Pat nói cô bị mất trí nhớ,” Lisa lẩm bẩm. “Thật kì thú. Nghe như một tiểu thuyết lâm li ấy.”

“Đúng vậy,” Patrick gầm gừ.

“Tôi thấy ngạc nhiên là anh ấy đã nói với chị đấy,” Molly nói, làm ngơ anh ta. “Tôi có cảm tưởng rằng chồng tôi không tin tôi cho lắm.”

Phản ứng của anh ta là một tiếng khịt mũi hoài nghi. Bàn tay tay Lisa liền nắm chặt lấy cánh tay anh ta vẻ cảnh báo, và Molly không tài nào dứt mắt khỏi cái nắm tay đầy sở hữu đó.

“Tất nhiên là anh ấy tin cô, Molly. Vì cớ gì mà cô ra đi không nói một lời với tôi, bạn thân nhất của cô? Hay với chồng cô, hoặc với bất cứ ai? Hẳn là cô có lí do, và chỉ cần cô nhớ được thì tôi chắc cô sẽ kể hết cho chúng tôi.”

Molly nhìn cả hai người họ. Bạn thân nhất của cô, khoác một vẻ quan tâm dịu dàng giả tạo và cái nắm tay đầy sở hữu của cô ta. Đức ông chồng, đang quan sát cô với vẻ nghi ngờ chai đá.

Rất có thể bọn họ đã bắt tay với nhau, Molly nghĩ. Sự biến mất của cô có lợi cho tất cả mọi người. Chẳng có gì lạ khi cô phải bỏ trốn.

“Đương nhiên rồi,” cô điềm tĩnh nói, tự lấy phần cho mình từ đĩa bánh sandwich ngon lành bà Morse dọn lên. Cô đang đói ngấu, và cô bất cần nếu cái cô nàng thanh cao gọi là bạn cô kia chứng kiến cảnh cô đánh chén đồ ăn thức uống.

Molly nhét một chiếc sandwich vào miệng, rồi lấy tiếp cái nữa. “Vậy hãy cho tôi biết,” cô nói bằng giọng đối thoại, “chuyện gì đã xảy ra giữa hai người trong thời gian tôi vắng mặt vậy?”

Patrick lập tức bị sặc cà phê.

Đó là một bữa ăn làm sáng tỏ nhiều điều. Molly nghĩ vào nhiều giờ đồng hồ sau đó, lúc cô đang ngồi khoanh chân trên giường, nhìn chằm chằm xuống chiếc khăn tay manh mối. Lisa rõ ràng rất giỏi ứng phó với những tình huống xã hội ngượng ngùng, Patrick thì hoàn toàn không hứng thú làm bộ nhã nhặn trong bất cứ chuyện gì. Rõ ràng ai nấy đều biết về Lisa và Patrick – cũng rõ ràng là, chuyện đó được liệt vào dạng nên nhắm mắt làm ngơ.

Molly chơi trò đó rất đạt. Cô nói năng đúng mực, dễ dàng nhập vai một cô bạn trẻ hơn. Dễ dàng đến nỗi cô ngờ rằng đó là trò quen thuộc của ba người bọn họ.

Lisa và Patrick, rất khoan dung với đứa con gái mới lớn nông nổi suốt ngày lẵng nhẵng bám theo họ. Cô gần như có thể trông thấy cái cảnh đó, gần như nhớ được nó.

Vì sao anh ta lại không lấy Lisa? Cô chợt nhớ ra ông chồng già của Lisa một cách muộn màng. Bà Morse bảo ông ta mới qua đời, thế mà trông Lisa khó mà giống bà quả phụ đau buồn. Thật tệ là ông già ấy không chết từ mười tháng trước và cứu tất cả mọi người khỏi rắc rối lớn. Patrick có thể đã cưới Lisa thay vì phải chấp nhận một đứa em họ xa năm đời hoặc bất cứ kiểu họ hàng nào khác giữa cô với anh ta.

Cô nhìn mảnh vải trên tay. Những vệt màu cam trông quen thuộc một cách kỳ cục, nhưng cô không tài nào lần ra. Chúng không phải vết gỉ sắt cũng không phải máu, và cô tự hỏi sao cảnh sát lại không lấy nó làm vật chứng. Phải chăng cô đã giấu nó khỏi bọn họ? Nếu thế, thì vì lí do gì?

Quá nhiều câu hỏi đặt ra. Cô mệt lử người, bụng thì vẫn đói. Patrick đã rời bàn ăn ngay tức khắc, chẳng mấy chốc sau Lisa cũng biến mất, và Molly chỉ biết ngồi tưởng tưởng bọn họ ở đâu và đang làm gì.

Cô không muốn thế.

Cô ngả lưng ra giường, nhét cái khăn xuống dưới gối. Cô chưa sẵn sàng để cho bất kỳ ai trông thấy nó. Cô không rõ tầm quan trọng của nó đến đâu, nhưng hiện giờ nó là đầu mối duy nhất, lợi thế duy nhất mà cô có. Cô không định để nó lọt vào mắt người nào khác cho đến khi cô đã hoàn toàn sẵn sàng.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.